Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ HÓA LÝ CỦA QUÁ TRÌNH ANOT NHÔM Khi đấu nối nhôm vào cực dương như hình 1.1 (sử dụng dòng điện một chiều) thì nhôm sẽ bị anot hóa. Quá trình anot sẽ tạo một lớp màng oxit trên bề mặt nhôm, vì lớp màng này rất cứng và trơ về mặt hoá học cho nên nếu thực hiện đúng kỹ thuật trong một thời gian hợp lý thì lớp màng oxit tạo thành sẽ tăng độ cứng cho nhôm và bảo vệ nhôm ở bên trong lớp màng.
Hình mô tả các giai đoạn tạo thành lớp oxit khi anot hóa [27] Khi nhúng nhôm vào dung dịch điện phân ở anot nhôm có quá trình hòa tan điện hóa nhôm : Al = Al3+ + 3e (1.1) Đồng thời nhôm tác dụng với dịch điện phân theo phản ứng 2Al + 3H2SO4 = Al2(SO4)3 + 3H2 (1.2) Diễn ra đồng thời với quá trình hòa tan nhôm là quá trình giải phóng oxi theo phản ứng : 4 OH- - 4e = O2 + 2H2O (1.3) Quá trình giải phóng oxi có thể qua các bước: 2 OH- = H2O + O2- (1.7) Các sản phẩm tạo ra O2-, O phản ứng với nhôm anot (sản phẩm cần oxi hóa) 2 Al3+ + 3O2- => Al2O3 (1.9) Quá trình hình thành lớp oxit nhôm nhanh chóng,quá trình hòa tan lớp oxit cũng sẽ đồng thời xảy ra: Al2O3 + 3H2SO4 => Al2(SO4)3 + H2O (1.10) Quá trình hòa tan lớp oxit này sẽ tạo ra các lỗ xốp. Ở catot, quá trình khử : H+ + 2e => H2 (1.11) Khi lỗ xốp được hình thành: O2-, O khuyếch tán qua màng ở đáy các lỗ xốp và tạo ra Al2O3. Phần này sẽ tiếp tục gia tăng làm dày thêm lớp oxit. Đồng thời phần lớp oxit ở phía trên sẽ bị hòa tan , phía trên các lỗ xốp có dạng hình côn.
Trong các lỗ xốp có các phản ứng hydrat hóa Al2O3 + H2O => Al2O3.nH2O + H2SO4 => Al2(SO4)3 + (n+3) H2O (1.14) Quá trình anode hoá sẽ tạo ra cấu trúc hai lớp oxit trên bề mặt sản phẩm nhôm bị anode hoá như trên hình 1.2, lớp phía ngoài xốp có nhiều lỗ và phía trong là lớp lớp Al2O3 không có lỗ, có điện trở rất lớn gọi là lớp barie. Ảnh minh hoạ lớp màng Al2O3 tạo thành trong quá trình anot hoá [28] Dung dịch được chọn để anot hoá phải là dung dịch mà không hoà tan được Al2O3, hoặc nếu có hoà tan được màng Al2O3 thì cũng ở tốc độ rất chậm so với tốc độ tạo thành màng. Thành phần dung dịch tuỳ thuộc người chế tạo màng muốn thích lớp màng xốp hay lớp màng barie phát triển. Lớp màng barie thường dễ phát triển trong các môi trường trung tính, ở môi trường này Al 2O3 rất khó bi hoà tan ví dụ như các dung dịch : amonium borate, phosphate,….
Lớp màng xốp thường phát triển ưu thế trong các dung dịch axit, ở môi trường này thì Al2O3 vừa bị hoà 5 tan và cũng đồng thời vừa phát triển. Dung dịch ứng dụng rộng nhất là dung dịch axit loãng H2SO4 1M, một số dung dịch dùng cho trường hợp riêng đó là dung dịch có các thành phần như oxalic acid, phosphoric acid. Lớp barie Khi bề mặt nhôm bị bao phủ bởi một lớp oxit thì màng này sẽ có điện trở rất lớn và ngăn không cho dòng điện đi qua trừ khi hiệu điện thế tăng 1÷ 2 V. Để tạo thành lớp barie thì cần một điện trường lớn hơn 1V/nm (V/ chiều dày màng), hay cách nói khác là khi tăng dần điện thế thì chưa đến được một giới hạn nhất định thì sẽ không có dòng.
Vượt thế qua giá trị tới hàn này thì lực điện trường đủ sức để di chuyển ion Al3+ và O2- xuyên qua lớp oxit để tạo thành màng barie. Dòng điện qua màng là dòng di chuyển các ion âm, những ion này sẽ phản ứng để tạo ra lớp màng barie. Các anion oxi sẽ di chuyển qua màng oxit để phản ứng với Al tại bề mặt phân chia Al-Al2O3 để tạo nên lớp màng oxit. Còn trên catot thì xảy ra quá trình khử H+ thành H2.
Quá trình này được minh hoạ ở hình 1. Cơ chế tạo lớp barie [9] Phản ứng tạo lớp màng barie Tính chất lớp màng barie được thống kê ở bảng 1. Tính chất lớp barie Thông số Đơn vị đo Giá trị Khối lượng riêng g/cm3 3,89 Độ xốp % 0 Màu sắc Trắng ngà 6 Độ bền uốn Mpa 379 Mô đun đàn hồi Gpa 375 Mô đun trượt Gpa 152 Độ bền nén Mpa 2600 Độ cứng Kg/mm2 1440 Nhiệt độ nóng chảy 0 C 1750 Hệ số dẫn nhiệt W/m°K 35 Hệ số giãn nở nhiệt 10–6/°C 8,4 Lớp barie bền với nhiều loại hoá chất trong khoảng pH từ 5 ÷ 10 cho nên lớp này có khả năng bền với nhiều tác nhân ăn mòn. Do bền nhiệt nên nó có thể được sử dụng ở nhiệt độ dưới 300 0C.
Cách điện tốt, sẽ bị dẫn điện nếu có điện thế 20 ÷ 40 V/µm. có hằng số điện môi từ 8 ÷10. Lớp oxit xốp Lớp oxit xốp thường được chế tạo trong các dung dịch axit, vì thế dung dịch này sẽ thường chứa nhiều muối nhôm do hoà tan nhôm. Lớp này có thể dễ dàng tổng hợp ở chiều dày 100 µm, chiều dày có thể lớn hơn lớp barie 100 lần.
Trái với màng barie thì việc sử dụng điện thế cao trong chế tạo lớp này là không cần thiết. Trong quá trình anode Al luôn bị hoà tan. Phản ứng anot 2Al = 2Al3+ + 6e (1.15) Phản ứng catot 6H+ + 6e = 3H2 (1.16) Lớp xốp tạo thành thường có lỗ và hình 6 cạnh, điều này được thể hiện ở hình 1. Trong nhiều trường hợp cấu trúc các lỗ xốp có thể bị rối loạn (khác nhau về kích thước các lỗ).
Kích thước lỗ, đường kính lỗ phụ thuộc vào thành phần dung dịch, điện thế, nhiệt độ. Kích thước cell và pore trong dung dịch H 3PO4 thường lớn hơn so với trong dung dịch H2SO4, nếu tăng thế thì kích thước cell sẽ tăng. Kích thước cell tăng tỷ lệ so với tăng thế (tuyến tính). Kích thước mỗi lỗ (cell) thường nằm trong khoảng 50 ÷ 300 nm, đường kính lỗ (pore) thường có giá trị khoảng 1/3 kích thước lỗ.
Trong dung dịch axit H2SO4 thì thường nếu chiều dày 7 màng 20 ÷ 50 µm thì nếu kích thước lỗ 40 ÷ 60 nm thì đường kính lỗ (pore) thường có giá trị là 20 nm. Đáy các lỗ là lớp barie. Minh hoạ lớp xốp [29] Một số hình ảnh hiển vi điện tử (SEM) lớp màng oxit tạo thành trong một số dung dịch được thể hiện ở hình 1. Hình ảnh lỗ xốp tạo thành trong quá trình anot hoá Al với các điều kiện khác nhau [30] a.
Trong dung dịch H2SO4 1M; 2,5 V. Trong dung dịch oxalic acid 0,3 M; 40 V. Trong dung dịch oxalic acid 0,3 M; 11 mA/cm2 d. Trong dung dịch H3PO4 0,75 M; 80 V.
Khi thực hiện quá trình anode hoá thì ở đáy các lỗ xốp này thì dòng sẽ đi qua nhiều vì khoảng cách giữa kim loại và dung dịch điện phân là ngắn nhất. Điện trường ở vị trí này cũng đều nhất và mạnh nhất. Do đó dưới tác dụng của dòng điện các ion đi qua vị trí này để tạo thành màng oxit nhôm. Quá trình tạo màng sẽ 8 làm cho chiều cao của mỗi lỗ sẽ tăng dần (chiều dày màng) nhưng bề dày thành lỗ và kích thước của lỗ không đổi.
Vì chiều dày lớp barie là không đổi cho nên dòng và thế dường như cũng không đổi. Điều này được thể hiện rõ hơn qua đo đạc ở hình 1. Sự thay đổi thế và dòng trong quá trình anot hoá Al Lớp màng xốp này sẽ không có tính ứng dụng nhiều nếu không có biện pháp bịt lỗ. Một biện pháp bịt lỗ thường dùng là sử dụng nước nóng Al2O3 + 3 H2O = 2AlOOH.H2O Quá trình bịt này tạo thành lớp màng không thấm nước và tương đối bền với môi trường.7 mô tả quá trình bịt lỗ bằng nước được minh hoạ.
Quá trình bịt kín lỗ xốp bằng nước [31] 9 1. Dung dịch sử dụng anot Có thể thống kê một số loại dung dịch sử dụng trong một số trường hợp cụ thể như bảng 1. Dung dịch sử dụng anot hoá nhôm Loại dung dịch Lĩnh vực ứng dụng H2SO4 Bảo vệ, trang trí Oxalic acid SULPHO-ORGANIC ACIDS CHROMIC ACID CHROMIC ACID Xử lý bề mặt (tiền xử lý) H3PO4 CITRIC ACID Tạo lớp barie ứng dụng trong công nghệ tụ BORIC ACID điện (ELECTROLYTIC CAPACITORS) + Dung dịch tạo lớp barie Phần lớn dung dịch loại này nhằm vào mục đích tạo lớp có nhiều tụ điện, mục đích bảo vệ. Dung dịch là amonium tartrate và boric acid.
Nồng độ dung dịch thường 3 % Ammonium tartrate và làm việc ở pH 5,5. Dung dịch tạo ra hệ thống tụ ứng dụng (electrolytic capacitor) thường là boric acid 10% vận hành ở 100 0C. Một số dung môi hữu cơ cũng dùng để tạo lớp màng này ví dụ như dung môi có thành phần cơ bản là dimethyl formamide. + Dung dịch để tạo lớp xốp Thành phần một số dung dịch này được thể hiện ở bảng 1.
Dung dịch axit H2SO4 được sử dụng phổ biến hơn cả. Nói chung là lớp xốp dễ tạo màu. Dung dịch H2CrO4 thường dùng CrO3 ở nồng độ 30 ÷ 50 g/L, điện thế sử dụng 40 ÷ 50 V. Mật độ dòng 0,1÷ 0,5 A/dm2, nhiệt độ 40 0C.
Oxalic acid được sử dụng ở Nhật và Châu âu trong lĩnh vực này. Giá thành của nó đắt hơn so với sử dụng axit H2SO4, điện năng tiêu tốn cũng nhiều hơn, đồng thời chúng cũng độc hại hơn. Thành phần, chế độ một số dung dịch anot hoá tạo lớp xốp Dung dịch axit H3PO4 thường hiếm khi sử dụng trong lĩnh vực anot để tạo lớp màng có tính bảo vệ và trang trí. Chúng thường được sử dụng làm tiền xử lý để gắn bám với một lớp khác tốt hơn (lớp phủ hữu cơ chẳng hạn).
Tập đoàn Boeing sử dụng chế độ 10 ÷ 12 % H3PO4, điện thế 10 ÷ 15 V, Nhiệt độ 21÷24 0C, thời gian 20 ÷ 25 phút. Sự thay đổi chiều dày màng oxit trong quá trình anode Sự thay đổi chiều dày màng trong quá trình anode hoá được trên hình 1. Sự thay đổi chiều dày màng theo thời gian anot [32] Theoretical : đường tính toán lý thuyết Actual : đường thay đổi theo thực tế Ở trên hình 1.8 có thể thấy chiều dày màng phát triển gần như tỷ lệ tuyến tính với thời gian anot hoá. Điều này cũng có vẻ phù hợp với sự giải thích quá trình hình thành màng ở mục 1.
Lúc đầu màng phát triển rất nhanh sau đó tốc độ phát triển chậm lại một chút. Ảnh hưởng của loại hợp kim tới tốc độ hình thành màng Sự ảnh hưởng này được thể hiện trên hình 1.