CHƯƠNG 1 MẠNG CẢM BIẾN KHÔNG DÂY 1.1 Khái niệm mạng cảm biến không dây Một mạng cảm biến không dây là một mạng bao gồm nhiều nút cảm biến nhỏ có giá thành thấp, và tiêu thụ năng lượng ít, giao tiếp thông qua các kết nối không dây, có nhiệm vụ cảm nhận, đo đạc, tính toán nhằm mục đích thu thập, tập trung dữ liệu để đưa ra các quyết định toàn cục về môi trường tự nhiên. Các nút cảm biến không dây có thể được triển khai cho các mục đích chuyên dụng như giám sát và an ninh; kiểm tra môi trường; tạo ra không gian thông minh; khảo sát, chính xác hóa trong nông nghiệp; y tế;. Lợi thế chủ yếu của chúng là khả năng triển khai hầu như trong bất kì loại hình địa lý nào kể cả các môi trường nguy hiểm không thể sử dụng mạng cảm biến có dây truyền thống được. Việc kết hợp các bộ cảm biến thành mạng lưới ngày nay đã tạo ra nhiều khả năng mới cho con người.
Các bộ vi cảm biến với bộ xử lý gắn trong và các thiết bị vô tuyến hoàn toàn có thể gắn trong một kích thước nhỏ. Chúng có thể hoạt động trong một môi trường dày đặc với khả năng xử lý tốc độ cao. Do đó, với mạng cảm biến không dây ngày nay, người ta đã có thể khám phá nhiều hiện tượng rất khó thấy trước đây. Với sự phát triển của công nghệ chế tạo linh kiện điện tử, công nghệ nano, giao tiếp không dây, công nghệ mạch tích hợp, vi mạch phần cảm biến… đã tạo ra những con cảm biến có kích thước ngày càng nhỏ gọn, đa chức năng, giá thành thấp, tiêu thụ năng lượng ít.
Điều này đã giúp cho mạng cảm biến không dây phát triển ngày một rộng rãi và gần gũi với cuộc sống con người.2 Cấu trúc mạng cảm biến Một nút cảm biến được tạo lên từ bốn thành phần cơ bản là: • Đơn vị cảm biến (sensing unit) • Đơn vị xử lý (processing unit) • Đơn vị truyền dẫn (transceiver unit) • Bộ nguồn (power unit) Học viên : Nguyễn Thị Hiền Lương-lớp 10BCNTT 10 Hình 1.1 Cấu tạo của nút cảm biến Ngoài ra có thể có thêm những thành phần khác tùy thuộc vào từng ứng dụng như là hệ thống định vị (location finding system), bộ phát nguồn (power generator) và bộ phận di động (mobilizer). Các thành phần trong một nút cảm biến được minh họa trên hình 1. Bộ cảm biến thường thường gồm hai đơn vị thành phần là thiết bị cảm biến (Sensor) và bộ chuyển đổi tương tự/số (ADC). Các tín hiệu tương tự có được từ các cảm biến trên cơ sở cảm biến các hiện tượng được chuyển sang tín hiệu số bằng bộ chuyển đổi ADC, rồi mới được đưa tới bộ xử lý.
Bộ xử lý, thường kết hợp với một bộ nhớ nhỏ, phân tích thông tin cảm biến và quản lý các thủ tục cộng tác với các nút khác để phối hợp thực hiện nhiệm vụ. Bộ thu phát đảm bảo thông tin giữa nút cảm biến và mạng bằng kết nối không dây, có thể là vô tuyến, hồng ngoại hoặc bằng tín hiệu quang. Một thành phần quan trọng của nút cảm biến là bộ nguồn. Bộ nguồn, có thể là pin hoặc acquy, cung cấp năng lượng cho nút cảm biến và không thay thế được nên nguồn năng lượng của nút thường là giới hạn.
Bộ nguồn có thể được hỗ trợ bởi các thiết bị sinh năng lượng, ví dụ như các tấm pin mặt trời nhỏ. Hầu hết các công nghệ định tuyến trong mạng cảm biến và các nhiệm vụ cảm biến yêu cầu phải có sự nhận biết về vị trí với độ chính xác cao. Do đó, các nút cảm biến thường phải có hệ thống tìm vị trí. Học viên : Nguyễn Thị Hiền Lương-lớp 10BCNTT 11 Khi nghiên cứu về mạng cảm biến không dây, một trong những đặc điểm quan trọng và then chốt đó là thời gian sống của các con cảm biến hay chính là sự giới hạn về năng lượng của chúng.
Các nút cảm biến này yêu cầu tiêu thụ công suất thấp. Các nút cảm biến hoạt động có giới hạn và nói chung là không thể thay thế được nguồn cung cấp. Do đó, trong khi mạng truyền thông tập trung vào đạt được các dịch vụ chất lượng cao, thì các giao thức mạng cảm biến phải tập trung đầu tiên vào bảo toàn công suất.2 Mô hình triển khai nút cảm biến không dây Hai cấu trúc thường gặp ở mạng cảm biến là cấu trúc phẳng và cấu trúc tầng.1 Cấu trúc phẳng Trong cấu trúc phẳng (flat architecture), tất cả các nút đều ngang hàng và đồng nhất trong hình dạng và chức năng. Các nút giao tiếp với trạm gốc qua phương pháp đa chặng sử dụng các nút ngang hàng làm bộ tiếp sóng.
Với phạm vi truyền cố định, các nút gần trạm gốc hơn sẽ đảm bảo vai trò của bộ tiếp sóng đối với một số lượng lớn nguồn. Ưu điểm khi sử dụng cấu trúc phẳng là tổ chức đơn giản, tuy nhiên sử dụng cấu trúc phẳng trong hoạt động định tuyến dễ gây lặp, dư thừa thông tin, không thể áp dụng với các mạng lớn. Học viên : Nguyễn Thị Hiền Lương-lớp 10BCNTT 12 1.2 Cấu trúc tầng Trong cấu trúc tầng (tiered architecture), các nhóm được thành lập giúp các tài nguyên trong cùng một nhóm gửi dữ liệu đơn chặng hay đa chặng (tùy thuộc vào kích cỡ của nhóm) đến một nút định sẵn, thường gọi là nút chủ (cluster head). Trong cấu trúc này các nút tạo thành một hệ thống cấp bậc mà ở đó mỗi nút ở một mức xác định thực hiện các nhiệm vụ đã định sẵn.
Mạng cảm biến xây dựng theo cấu trúc tầng hoạt động hiệu quả hơn so với cấu trúc phẳng, vì một số lý do sau: - Cấu trúc tầng có thể giảm chi phí cho mạng cảm biến bằng việc định vị các tài nguyên ở vị trí mà chúng hoạt động hiệu quả nhất. Rõ ràng là nếu triển khai các phần cứng thống nhất. Mỗi nút chỉ cần một lượng tài nguyên tối thiểu để thực hiện tất cả các nhiệm vụ. - Mạng cấu trúc tầng có thời gian sống cao hơn cấu trúc mạng phẳng.
Khi cần phải tính toán nhiều thì một bộ xử lý nhanh sẽ hiệu quả hơn, phụ thuộc vào thời gian yêu cầu thực hiện tính toán. Tuy nhiên, với các nhiệm vụ cảm nhận cần hoạt động trong khoảng thới gian dài, các nút tiêu thụ ít năng lượng phù hợp với yêu cầu xử lý tối thiểu sẽ hoạt động hiệu quả hơn. Do vậy, với cấu trúc tầng mà các chức năng mạng phân chia giữa các phần cứng đã được thiết kế riêng cho từng chức năng sẽ làm tăng thời gian sống của mạng. - Về độ tin cậy: mỗi mạng cảm biến phải phù hợp với số lượng các nút yêu cầu thỏa mãn điều kiện về thời gian sống và băng thông.
Với mạng cấu trúc phẳng, khi kích cỡ mạng tăng lên thì thông lượng của mỗi nút sẽ giảm về 0. Việc nghiên cứu các mạng cấu trúc tầng đem lại nhiều triển vọng để khắc phục vấn đề này. Một cách tiếp cận là dùng một kênh đơn lẻ trong cấu trúc phân cấp, trong đó các nút ở cấp thấp hơn tạo thành một nhóm xung quanh trạm gốc. Trong trường hợp này, dung lượng của mỗi lớp trong cấu trúc tầng và dung lượng của mỗi nhóm trong mỗi lớp xác định là độc lập với nhau.
Học viên : Nguyễn Thị Hiền Lương-lớp 10BCNTT 13 Tóm lại, khi dùng cấu trúc tầng thì việc tương thích giữa các chức năng trong mạng có thể đạt được. Hiện nay, người ta đang tập trung nghiên cứu về các tiện ích về tìm địa chỉ trong mạng cấu trúc tầng 1.3 Đặc trưng của mạng cảm biến không dây Như trên ta đã biết, đặc điểm của mạng cảm biến là bao gồm một số lượng lớn các nút cảm biến, các nút cảm biến có giới hạn và ràng buộc về tài nguyên đặc biệt là năng lượng rất khắt khe. Do đó, cấu trúc mạng mới có đặc điểm rất khác với mạng truyền thống. Sau đây, em sẽ phân tích một số đặc điểm nổi bật trong mạng cảm biến: Được triển khai dày đặc và số kết nối được tạo giữa các nút cảm biến rất lớn: số lượng các nút cảm biến là tùy thuộc vào từng ứng dụng cụ thể, có thể từ hàng trăm thậm chí hàng ngàn.
Do đó cấu trúc mạng phải có khả năng thích nghi để có thể làm việc với số lượng lớn các nútmà vẫn hoạt động tốt. Dễ triển khai: là một ưu điểm quan trọng của mạng cảm biến không dây. Sự giao tiếp giữa hai nút có thể bị ảnh hưởng trong suốt thời gian sống do sự thay đổi vị trí hay do sự ảnh hưởng của môi trường đến giao tiếp không dây. Lúc này, mạng cần có khả năng tự phát hiện và khắc phục được lỗi này.
Ràng buộc về phần cứng: vì trong mạng có một số lượng lớn các nút cảm biến nên chúng phải có sự ràng buộc với nhau về phần cứng: kích thước phải nhỏ, tiêu thụ ít năng lượng, có khả năng hoạt động ở những nơi có mật độ cao, hoạt động không cần có người kiểm soát, thích nghi với môi trường… Có khả năng tự tổ chức, yêu cầu ít hoặc không cần có sự can thiệp của con người: các nút cảm biến được thiết lập dày đặc, rất gần hoặc trực tiếp bên trong các hiện tượng để quan sát. Vì thế, chúng thường làm việc ở môi trường khắc nghiệt, nơi mà con người khó tiếp cận ví dụ như bên trong các máy móc lớn, những điều kiện môi trường khắc nhiệt, ô nhiễm… Khả năng chịu lỗi: một số các nút cảm biến có thể không hoạt động nữa do thiếu năng lượng, do những hư hỏng vật lý hoặc do ảnh hưởng của môi trường. Khả Học viên : Nguyễn Thị Hiền Lương-lớp 10BCNTT 14 năng chịu lỗi thể hiện ở việc mạng vẫn có thể hoạt động bình thường, duy trì những chức năng của nó ngay cả khi một số nút cảm biến bị loại ra khỏi mạng. Phương tiện truyền dẫn: ở những mạng cảm biến multihop, các nút trong mạng giao tiếp với nhau bằng sóng vô tuyến, hồng ngoại hoặc những phương tiện quang học.
Các phương tiện truyền dẫn phải được chọn phù hợp trên toàn thế giới để thiết lập sự hoạt động thống nhất của những mạng này. Sự tiêu thụ năng lượng: các nút cảm biến không dây là một thiết bị vi điện tử chỉ có thể được trang bị nguồn năng lượng giới hạn (<0. Trong một số ứng dụng, việc bổ sung nguồn năng lượng không thể thực hiện được. Vì thế khoảng thời gian sống của các nút cảm biến phụ thuộc mạng vào thời gian sống của pin.