đặt vấn đề tiếp cận nguồn tài liệu văn bản hiện đang được lưu trữ tại Cục Lưu trữ Nhà nước về ĐCĐC trên cơ sở tham khảo, đối chiếu và so sánh với các tài liệu mô tả dân tộc học và mô hình ĐCĐC của các nhà làm chính sách. Cách tiếp cận này có những lợi thế và cũng đặt ra những thách thức phải được vượt qua. Trước hết về mặt thuận lợi, các nguồn tài liệu hiện có vô cùng phong phú. Nó cho phép nhìn lại ĐCĐC trong một quá trình ở tầm vỹ mô, từ quá trình xây dựng, hoàn thiện chính sách, mô hình định canh định cư, đến quá trình thực hiện và những vấn đề phát sinh trong khi thực hiện ĐCĐC ở các cấp địa phương.
Thứ hai, đây là một nguồn tài liệu chưa được khai thác một cách hệ thống. Mặt khác, nguồn tài liệu lưu trữ từ trước tới nay rất ít khi được giới nghiên cứu nhân học khai thác. Một số văn bản lẻ tẻ từ các nguồn khác nhau thường được trích dẫn trong một số nghiên cứu nhưng chưa có một nghiên cứu nào xử lý nguồn tài liệu lưu trữ về ĐCĐC như một đối tượng thu thập và phân tích thông tin để hiểu về ĐCĐC ở quy mô không gian và thời gian tương đối rộng lớn trong vài thập kỷ. Hơn nữa, các mô tả dân tộc học đã có về chủ đề này thường chỉ tập trung vào một địa phương, một cộng đồng dân cư hay một nhóm tộc người nhất định.
Nguồn tài liệu lưu trữ cho phép nhìn công tác ĐCĐC trên một không gian rộng lớn và một khoảng thời gian đủ để đạt được hiểu biết có tính hệ thống và tổng thể hơn, mặc dù rằng lưu trữ không phải bao giờ cũng lưu đủ báo cáo hàng năm của tất cả các tỉnh và các năm. z Tuy nhiên, tiếp cận nhân học từ các nguồn tài liệu lưu trữ cũng đặt ra những thách thức. Trước hết, hệ thống báo cáo và lưu trữ tài liệu về ĐCĐC của Việt Nam không đầy đủ. Như chúng ta biết, thời kì công tác ĐCĐC được phát động chính là lúc đất nước đang đối mặt với các cuộc chiến tranh.
Do đó có những thông tin được báo cáo và được đưa vào hệ thống lưu trữ nhưng cũng có nhiều thông tin không được đưa vào lưu trữ hoặc đã thất lạc. Bên cạnh những báo cáo ở các địa phương, các ban ngành có thể bị mất mát, nhiều tài liệu cũng không được lưu trữ đầy đủ do hệ thống quản lí và thực hành thay đổi thường xuyên. Điều này khiến cho nguồn tài liệu này không phải là hoàn toàn có tính hệ thống. Hơn nữa, cần phải nhận thấy rằng độ tin cậy của các báo cáo này cũng bị ảnh hưởng bởi thói quen đề cao thành tích của các cơ quan ban ngành hoặc chưa có đủ điều kiện điều tra khảo sát theo một phương pháp khoa học nên các báo cáo này còn nặng về cảm tính, ước lượng, gây khó khăn cho giám định và phân tích định lượng.
Tuy vậy, đây vẫn là nguồn tài liệu duy nhất còn lại phản ánh tương đối đẩy đủ và có tính thời sự nhất về một thời kì lịch sử đã qua của chương trình ĐCĐC. Vì vậy, chúng tôi tin rằng tài liệu lưu trữ là một nguồn tài liệu có thể bổ sung cho các nghiên cứu thực địa tiến hành trên quy mô địa phương hay nhóm tộc người để đạt được hiểu biết toàn diện hơn về quá trình định canh định cư ở miền núi Bắc Việt nam. Có thể nói rằng tài liệu lưu trữ là một nguồn tài liệu gốc quan trọng. Hầu hết các báo cáo đều phản ánh thực tiễn ngay đang xảy ra ở các cấp thực hiện ĐCĐC từ các cơ quan chính phủ đến các địa phương và được lưu trữ thu thập và đưa vào hệ thống lưu giữ.
Tài liệu này giúp chúng ta hiểu được những gì đã diễn ra trong quá khứ, những thảo luận, tranh luận, thay đổi và chỉ đạo về định canh định cư, nhưng cũng bao gồm cả các phản hồi ở tầm địa phương trong quá trình thực hiện. Mặc dù mức độ tin cậy không phải là tuyệt đối nhưng đó là nguồn tài liệu sống động và phong phú, có tính lịch sử, giúp tái hiện lại được một thời kì đã qua. Những tài liệu này cho thấy những gì đã xảy ra và cái cách mà các bên tham gia vào chương trình lúc đó nhìn nhận vấn đề như thế nào. z Trọng tâm của nghiên cứu này tập trung vào các vấn đề chủ yếu sau đây: 1) Cơ sở lí luận của Chính sách Định canh Định cư ở miền núi Việt Nam là gì? Nó được xây dựng và phát triển trên cơ sở lí luận nào và tại sao các nhà làm chính sách phát triển của Việt Nam lại xem chính sách Định canh Định cư là một chương trình cấp thiết và quan trọng đối với phát triển ở miền núi? 2) Nội dung chủ yếu của chính sách Định canh Định cư bao gồm những vấn đề gì? Bản chất của Định canh Định cư là gì: Đó là một chương trình phát triển miền núi, cải tạo xã hội có tính nhân văn của nhà nước hay còn có những ngụ ý thực tiễn khác như các nhà khoa học nước ngoài thường phân tích? 3) Chương trình ĐCĐC được thực hành như thế nào? Những vấn đề gì đặt ra trong quá trình thực hiện và phản hồi của người dân và các cấp chính quyền về chính sách này như thế nào? Các mô hình ĐCĐC được vận dụng ở các địa phương như thế nào và mức độ thành công của các mô hình này được các địa phương báo cáo như thế nào? Quá trình thực hiện ĐCĐC trong thời kỳ kinh tế tập thể đã để lại những bài học gì cho công tác xây dựng chính sách phát triển miền núi hiện nay? 2.
Lịch sử nghiên cứu ĐCĐC từ những thập kỉ 60 của thế kỉ 20 đã được xem là một trong những vấn đề cấp bách của Chính phủ Việt Nam trong chương trình phát triển miền núi. Đã có rất nhiều các bài báo, báo cáo, đầu sách và các hội nghị được tiến hành bàn luận về vấn đề này trong suốt vài thập kỉ qua. Trong những năm 60 đến 90 của thế kỉ 20, hầu hết các nghiên cứu đều có xu hướng nhận xét rằng nông nghiệp nương rẫy là một loại hình nông nghiệp nguyên thủy và sự tồn tại của loại hình nông nghiệp này là điều không thể chấp nhận được bởi những tác động tiêu cực của nó lên đời sống người dân và cả môi trường tự nhiên. Đặng Nghiêm Vạn là một trong những nhà dân tộc học có những nghiên cứu tương đối sớm về vấn đề này.
Trong một bài viết năm 1975, ông cho rằng: z “…nhiều tác giả đã ca ngợi hình thức canh tác nương rẫy là hình thức thích hợp với một số cư dân nhất định trong điều kiện trình độ kinh tế thấp kém và có thể tồn tại mà không phá hoại sự cân bằng đời sống của rừng, tức là không dẫn đến việc hủy diệt môi trường sống. Thực ra, đối với các cư dân điển hình cho hình thái canh tác nương rẫy này, do có nhiều kinh nghiệm nên có thể trụ lâu ở một nơi. Song họ không thể từ đời này qua đời khác ở yên một chỗ vì dân số tăng và vì qua nhiều lần quay vòng rừng không tránh khỏi dần suy thoái và cuối cùng cũng trở thành mảnh đất không thể trồng trọt được” (1975: 11-12) Những phân tích của Đặng Nghiêm Vạn đã được chấp nhận một cách rộng rãi và thậm chí nó có ảnh hưởng sâu sắc trong giới học giả lúc bấy giờ. Các nghiên cứu tiếp theo của các học giả khác về vấn đề này cũng có cái nhìn nhất quán với những quan điểm của Đặng Nghiêm Vạn.
Có thể nhận thấy các nghiên cứu này hầu hết là những mô tả dân tộc học về nông nghiệp nương rẫy ở những khía cạnh hay tộc người cụ thể (Nguyễn Công Minh (1982); Cư Hoà Vần (1988), Nguyễn Anh Ngọc, 1989a, 1989b), hay nhìn nhận vấn đề ĐCĐC dưới góc độ dân số dân số học (Lê Duy Đại, 1989)…Các nghiên cứu này hầu hết nhấn mạnh sự cần thiết phải thay đổi lối sống của các tộc người còn DCDC và sự đúng đắn của chính sách ĐCĐC của chính phủ. Quan điểm này được xuyên suốt trong các bài tham luận của cuộc hội thảo về ĐCĐC năm 1984 và thường xuyên được nhấn mạnh trong các bài phát biểu của các nhà lãnh đạo Việt Nam (Nguyễn Văn Linh, Đồng Sĩ Nguyên, Đàm Quang Trung, 1990). Có thể nói trong số các nhà dân tộc học Việt Nam, Nguyễn Anh Ngọc đã dành công sức đáng kể để mô tả về loại hình kinh tế du canh du cư của các tộc người miền núi phía Bắc, đặc biệt là người Hmong. Trong khi đó, Bùi Minh Đạo đã có một công trình nghiên cứu sâu về tập quán canh tác trồng trọt nương rẫy của các cư dân vùng Trường Sơn – Tây nguyên.
Các nghiên cứu này đã mang lại cái nhìn cận cảnh đối với hoạt động nông nghiệp, loại hình trồng trọt nương rẫy du canh của các tộc người ở Việt Nam. z Đối lập với cách nhìn của các học giả Việt Nam, các nhà nghiên cứu phương Tây có xu hướng phủ định nỗ lực của Nhà nước trong phát triển miền núi thông qua chương trình ĐCĐC. Tiếp cận từ quan điểm nhân học chính trị để phân tích quan hệ nhà nước và tộc người, các nhà nghiên cứu nước ngoài cho rằng những chính sách phát triển miền núi như ĐCĐC thực chất chỉ là một phương cách để Chính phủ Việt Nam đồng hoác các dân tộc thiểu số. Nhà nhân học Charles Keyes nhận định rằng các tộc người thiểu số “đã buộc phải tuân theo các chính sách tương tự nhau nhằm thủ tiêu các đặc tính dân tộc và cách sống riêng của họ”; và “các chính sách của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam hướng tới các nhóm dân tộc thiểu số đã như là tác nhân đồng hóa, cũng giống như ở các quốc gia Đông Nam Á khác” (Charles Keyes, 2000).
Oscar Salemink (2000) và Mc Elwee P., (2004) cũng có những quan điểm tương tự khi viết về công tác ĐCĐC ở Việt Nam. Tuy nhiên trong một cuộc thảo luận với một học giả khác nghiên cứu về ĐCĐC ở Thái Lan (Stan B – H Tan and Andrew Walker, 2008), Stan Tan có một cái nhìn “công bằng” hơn, về những thành công và thất bại của chương trình ĐCĐC. Ông cho rằng người vùng cao có nhiều cách phản ứng lại chương trình ĐCĐC. Có những làng định cư thất bại bởi người dân rút vào rừng sâu hơn, một vài người rời bỏ làng định cư ngay sau đó không lâu.