Đặt vấn đề Đến nay những hệ thống cơ sở đữ liệu đã có mặt tại hầu hết các hoạt động kinh tế xã hội. Cùng với sự phát triển của công nghệ phần cứng như vi xử lý tốc độ cao, 6 đĩa với dung lượng lưu trữ lớn, khả năng sao lưu thì đữ liệu của các tổ chức, doanh nghiệp trong quá trình hoạt động đã được cập nhật và lưu giữ một cách đầy đủ. Cùng với sự đa dạng hoạt động hàng ngày của phòng ban, nhân sự cũng như với các đối tác bên ngoài, dữ liệu nghiệp vụ của tổ chức ngày càng trở nên không 16. Dữ liệu có thé là tệp phăng (không có cấu trúc) như hình ảnh, văn bản đến dữ liệu có cấu trúc được lưu giữ tại các hệ quản trị CSDL.
Một hãng bán lẻ nổi tiếng như WalMart xử lý hàng chục triệu giao dich mỗi ngày, hay ở Việt Nam, một công ty bán lẻ thời trang cũng có hàng trăm đơn hàng. Dữ liệu ngày qua ngày được tích lũy thay thé dần các hoạt động giấy tờ. Người ta có thé truy cập dữ liệu minh cần một cách nhanh chóng bằng các phép tìm kiếm hay thông qua sơ đồ thư mục lưu trữ trên hệ điều hành. Như vậy với các công nghệ hiện tại đã và đang đáp ứng tốt một giai đoạn yêu cầu của người dùng.
Đến một ngày, khi những thành viên trong ban quản trị nhìn xuống và sửng sốt với độ lớn dit liệu của t6 chức, doanh nghiệp mình. Toản bộ hoạt động, lịch sử được lưu dưới dạng số một cách đầy đủ. Dữ liệu ấy chính là tài sản của công ty. Và họ muốn răng những khối dữ liệu không 16 ấy phải nói lên những điều thật ý nghĩa.
Điều này khác với việc họ muốn tìm lại một đơn hàng, một thông tin mang tính cá nhân của một khách hàng. Ở đây họ muốn biết cái sơ đồ doanh thu theo chiều lên hay xuống, muốn tách ra quy luật của bán hàng, quy luật của năng suất hoạt động,. Quy luật ấy dựa trên các yếu té thời gian, yêu tổ con người, yếu tố địa lý,. Có quy luật ấy không, nếu có thì quy luật ấy được phát biểu và thé hiện như thế nào.
Nếu doanh nghiệp lấy ra được các thống kê, quy luật ấy họ sẽ có được những quyết sách trong tương lai một cách phù hợp hơn, dựa trên những yếu tố có cơ sở đúng đắn. Mùa nào, tháng nào trong năm, loại hàng hóa nào sẽ được day mạnh ra thị trường. Vì thế có thể nói nếu dữ liệu tích luỹ được phân tích chính xác, nó có thé trở thành những phương tiện cạnh tranh hiệu quả. Hiện nay dữ liệu tràn ngập trên những phương tiện lưu trữ.
Với việc không có được những công cụ khai thác thông tin hiệu qua , các tổ chức doanh nghiệp đang sống trong một môi trường “giàu đữ liệu nhưng nghèo thông tin”. Trong môi trường cạnh tranh ngày nay cùng với sự phát triển nhanh chóng của thế giới, những nhà ra quyết định xác định rõ cần phải có một thế hệ các kỹ thuật và công cụ tính toán -6— mới nhằm hỗ trợ họ trong việc trích xuất các thông tin hữu ích (tri thức) được nhúng bên trong các dữ liệu thu thập và tích luy. Họ mong muốn có những công cụ hỗ trợ quyết định trong một môi trường tích hợp dé họ có thé tự tạo những tiêu chuẩn của riêng mình hoặc những báo biểu đặc biệt cho phân tích các dữ liệu phức tạp. Nắm được lợi ích của lượng dữ liệu lớn, họ có thể xác định được những thông tin tiềm ân, chăng hạn nhờ đó có thé tiết kiệm chi phí, vươn tới những thi trường mới va theo vết tổng thu nhập một cách hiệu quả.
Data warehouse, một công nghệ mới ra đời vào khoảng đầu những năm 90 đã được đón nhận và đưa vào thực tiễn. Tại Việt Nam, khái niệm và công nghệ này đã được làm quen cách đây cũng được khoảng 5 năm nhưng trên thực tế chúng hầu như chưa được quan tâm và ứng dụng một cách hiệu quả. Điều này cũng bắt nguồn từ nhu cầu quản lý trong một thế giới cạnh tranh chưa gay gắt, trình độ quản lý không cao. Với sự phát triển kinh tế xã hội, gia nhập WTO, môi trường ngày càng trở nên sôi động, mức độ cạnh tranh cao.
Trong những đòi hỏi phát triển trình độ quản lý có yêu cầu nhanh chóng tổng hợp các khía cạnh trên dữ liệu hoạt động không lồ của doanh nghiệp mình, nhìn ra được những xu hướng đã va đang tồn tại ở các mặt hoạt động từ đó có những quyết định, xử ly đúng dan. Chính vì điều này nên học viên chọn Data warehouse làm đề tài nghiên cứu.2 Pham vi của dé tài Đề tài trình bày các vấn đề chính trong lĩnh vực Data warehouse bao gồm cơ sở lý thuyết và một số khía cạnh thực tế của công nghệ này. Đề tài cũng trình bày hệ thống Microsoft SQL Server phiên bản 2005 và áp dụng hệ thống này dé xây dựng một nhà kho dữ liệu. 2 Dinh nghĩa lại van dé 2.1 Các hệ thống thông tin tác nghiệp Công nghệ thông tin ngày càng đóng vai trò to lớn trong mọi hoạt động sản xuất quản lý của con người.
Hầu hết việc thông tin tự động hóa đã được đưa vào các quy trình của doanh nghiệp tổ chức. Đó là tổ chức sản xuất, bán hàng, quản trị khách hàng, quản trị nguồn nhân lực. Trên thực tế các công ty muốn thành công trên thị trường, ngoài việc tô chức bán hàng tốt (giao dịch đơn giản, thuận tiện cho người mua và người quản lý bán hàng.), người lãnh đạo công ty phải nắm được thực chat các quá trình diễn ra trong đơn vị mình và trong môi trường kinh doanh mà đơn vị đó hoạt động. Dé thực hiện các công việc của một công ty, người ta có nhiều hệ chương trình tự động hoá các lĩnh vực quan trọng như kế toán, lập kế hoạch, giao dịch khách hàng, lập hoá đơn.
Chính vi lý do đó những hệ thống này có một cái tên cổ điển -7— là hệ thống xử lý giao dịch (OLTP- online transaction processing). Thông thường OLTP bao gồm một dãy lệnh: thu nhận (gathering) dữ liệu đầu vào, xử lý (processing) đữ liệu, và cập nhật (updating) dữ liệu cũ với dữ liệu mới được nhập và xử lý. Mỗi giao dịch tương ứng với một phép xử lý nghiệp vụ : tạo lập đơn hàng với khách hàng, đăng ký khóa học, chuyên khoản,. Các giao dịch này này trong quá trình thực hiện liên quan đến nhiều vai trò tạo ra một hay nhiều thực thể.
Bằng việc sử dụng hệ thống OLTP thì các thông tin về thực thể, thông tin về quá trình thực hiện được lưu lại trên các hệ thống máy tính. Các tổ chức, doanh nghiệp chưa đưa CNTT vào áp dụng thì chúng được lưu dưới dạng sé sách giấy tờ. Theo thời gian, mỗi doanh nghiệp sở hữu các kho đữ liệu. Thông tin trước hết là một phát biểu có nghĩa được trích rút từ kho đữ liệu.
Giá trị của thong tin tỷ lệ thuận với “ độ không biết ” của con người. Thông tin có thé lay từ bản thân một mảnh dữ liệu hoặc có thé xâu chuỗi từ nhiều mảnh đữ liệu với một mối quan hệ nào đó. Quá trình xác định mối quan hệ giữa các dữ liệu đòi hỏi các kiến thức cần thiết về khả năng nhận thức và năm bắt chuỗi thông tin cũng như phương thức làm cho thông tin đó có khả năng đáp ứng một nhiệm vụ cụ thé. Trong quản lý, giá trị của thông tin có liên quan trực tiếp tới việc thông tin đó giúp đạt được các mục tiêu của tổ chức.
Trong khi dữ liệu đang được một giao tác cập nhật, có thé có hoặc không một khoá ngăn không cho giao tác khác truy cập dữ liệu. OLTP là phương thức hiệu quả khi các người dùng muốn: - Xử lý các dữ liệu đơn nói chung không giới hạn về mặt số lượng với tan suất không biết trước một cách chính xác. - Truy cập tức thi vào dữ liệu đã được cập nhật, phan ánh các giao tác trước đó - Thay đổi dit liệu tức thì dé phan ánh giao tác vừa xử lý.1 Cac chức năng và thuộc tính cơ ban của OLTP Khả năng truy cập va cập nhật các dữ liệu chia sẻ trên các hệ thống OLTP có các đặc tính - __ Truy cập trực tuyến (online) - Truy cập tức thời (availability) - Phan hồi nhanh chong (response) - Chi phí thấp (low cost). Truy cập trực tuyến: dé truy cap, user cần một máy trạm (workstation) nối với hệ thống.
Kết nói vật lý có thé thông qua mạng nội bộ LAN, mạng mở rộng WAN (bao gồm cả mạng nội thị MAN), hay internet (với mạng riêng ảo hay hệ thống web — based). Kết nối 16 gic -8— được cung cấp bởi hệ thống OLTP hoặc riêng lẻ, hoặc được liên kết với một phương thức truy cập truyền thông và trình điều khiển mạng. Truy cập tức thời: Đây là một yêu cầu rất quan trong đối với một hệ thống OLTP. Vì quy trình của công ty được xây dựng dựa trên | cau thành là hệ thống thông tin nên nó phải luôn sẵn sang cho bat cứ nhu cau truy cập ở thời điểm nào.
Một công ty dịch vụ với 24 giờ làm việc một ngay trong cả tuần, những nhu cầu truy cập dữ liệu không được định trước. Mặt khác nhiều công ty còn cho phép tương tác với khách hàng thông qua hệ thống. Vì thế để công ty hoạt động thông suốt thì hệ thống cần phải có khả năng truy cập tức thời. Dé đảm bảo được khả năng này cần phải có chất lượng và công nghệ kết nối phần cứng, phần mềm, ứng dụng, và các thiết bị hay tiện ích tự động phục hồi (recover) từ bat cứ lỗi cầu tạo nao.
Cùng với khả năng sửa lỗi hay vượt lỗi, hệ thống OLTP cũng cần giảm thiểu ảnh hưởng của các hoạt động bat thường như nâng cấp phan cứng, thay đổi phần mềm, chuyền đổi công việc, lưu trữ dữ liệu, và tái cơ cấu tổ chức. Phản hồi nhanh chóng: Như đã phân tích ở trên nhân viên hay thậm chí khách hang đối tác của doanh nghiệp sử dụng hệ thống OLTP hầu như mọi lúc. Để duy trì và đáp ứng hiệu quả công việc thì thời gian phản hồi giao tác phải đủ nhanh chấp nhận được với người dùng. Thuật toán đáp ứng giao tác tốt, chế độ sắp xếp hàng đợi giao tác hợp lý là những nhân tố để đáp ứng yêu cau này.