CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về sốt xuất huyết 1. Đại cương Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh truyền nhiễm do virus quan trọng ở người do nhiễm bất kỳ loại nào trong bốn kiểu huyết thanh DENV (DENV-1 đến DENV-4). Virus truyền từ người bệnh sang người lành do muỗi đốt.
Véc tơ truyền bệnh là Aedes aegypti và Aedes albopictus trong đó Aedes aegypti là chủ yếu. Bệnh xảy ra quanh năm thường gia tăng vào mùa mưa với đỉnh dịch thường từ tháng 6 đến tháng 10, gặp cả ở trẻ em và người lớn. Nhiễm DENV có triệu chứng lâm sàng phổ rộng từ một hội chứng giống cúm nhẹ, được gọi là sốt xuất huyết (DF), đến hội chứng sốc sốt xuất huyết (DSS) có thể đe dọa tính mạng đã trở thành mối quan tâm lớn về sức khỏe cộng đồng quốc tế (1). Tác nhân gây bệnh DENV là thành viên của chi Flavivirus và họ Flaviviridae.
Là một virus hình cầu, nucleocapsid đối xứng khối, đường kính 45nm - 50nm chứa một sợi ARN. Bao bọc sợi ARN là lớp vỏ nucleocapsid. Bộ gen của virus dài khoảng 11kb, trong đó có 3 gen mã hóa các protein cấu trúc gồm nucleocapsid (protein lõi (C), protein màng (M), protein vỏ (E), và 7 gen mã hóa các protein phi cấu trúc (NS), protein (NS1, NS2A, NS2B, NS3, NS4A, NS4B và NS5) (1). Các protein cấu trúc tạo nên các thành phần của virion DENV trong khi các protein phi cấu trúc tham gia vào quá trình sao chép RNA.1 Ảnh cấu trúc DENV.
Nguồn Scientific Animations Virus sốt xuất huyết tạo thành một phức hợp riêng biệt trong chi Flavivirus dựa trên kháng nguyên và đặc điểm sinh học. Có bốn kiểu huyết thanh virus được ký hiệu là DENV-1, DENV-2, DEN-V3 và DEN-V4. Nhiễm bất kỳ một loại huyết thanh nào sẽ tạo ra khả năng miễn dịch suốt đời đối với loại huyết thanh virus đó. Mặc dù cả bốn kiểu huyết thanh đều giống nhau về mặt kháng nguyên, nhưng chúng đủ khác nhau để tạo ra sự bảo vệ chéo chỉ trong vài tháng sau khi bị lây nhiễm bởi bất kỳ kiểu huyết thanh trong số đó.
Nhiễm trùng thứ phát với một loại huyết thanh khác hoặc bội nhiễm với các huyết thanh khác nhau dẫn đến bệnh sốt xuất huyết dạng nặng (SXHD/DSS). Virus sốt xuất huyết của cả bốn tuýp huyết thanh đều có liên quan đến dịch bệnh sốt xuất huyết (có hoặc không có SXHD) với mức độ nghiêm trọng khác nhau (1). Tại Việt Nam trong những năm qua có sự lưu hành của cả 4 tuýp virus Dengue, tuy nhiên phổ biến hơn cả là virus Dengue tuýp 1. Con người có thể nhiễm cả bốn tuýp huyết thanh do muỗi Aedes truyền bệnh.
Loài muỗi này có mặt khắp nơi từ nông thôn tới thành thị, đồng bằng, ven biển đến miền núi gắn liền với nơi ở của con người và thường ở trong nhà (9). Cơ chế bệnh sinh Cơ chế bệnh sinh SXHD chưa được nghiên cứu đầy đủ. Hiện nay có hai giả thuyết chính: - Giả thiết về độc lực của virus theo giả thuyết này, các tuýp virus Dengue có độc lực mạnh thì gây thể bệnh nặng có sốc có xuất huyết. - Giả thuyết về cơ địa bệnh nhân: Bệnh nhân nhiễm virus Dengue có xuất huyết và có sốc là do tái nhiễm virus Dengue khác tuýp và do đáp ứng miễn dịch bệnh lý của cơ thể (HalStead SB), giả thuyết này được nhiều người ủng hộ.
Nhiễm bất kỳ loại virus sốt xuất huyết nào trong số bốn loại virus gây bệnh sốt xuất huyết được truyền bởi muỗi Aedes sang con người trong chu kỳ người - muỗi - người, tạo miễn dịch suốt đời với loại huyết thanh đó và giữa các tuýp huyết thanh hoạt tính chéo. Tuy nhiên, miễn dịch này sẽ hết sau 2-3 tháng, lúc đó người bệnh dễ bị ảnh hưởng bởi ba tuýp còn lại của bệnh sốt xuất huyết. Nhiễm virus sốt xuất huyết thứ cấp ở người đã được dịch tễ học nói đến hội chứng thoát huyết tương và chảy máu được gọi là SXHD. 90% các trường hợp SXHD xảy ra do nhiễm virus Dengue thứ phát, trong khi 10% xảy ra ở nhiễm trùng nguyên phát, thường ở trẻ sơ sinh trong nửa sau năm đầu tiên của cuộc đời.
Do người mẹ truyền kháng thể virus sốt xuất huyết có liên quan đến một hiện tượng được gọi là tăng cường phụ thuộc kháng thể, trong đó các kháng thể sốt xuất huyết tồn tại từ trước không trung hòa được liên kết với dị loại virus sốt xuất huyết tạo thành phức hợp kháng thể - virus dẫn đến tế bào bị nhiễm virus sốt xuất huyết tăng lên tạo ra hệ miễn dịch mạnh mẽ cho vật chủ, phản ứng bao gồm các cytokine gây viêm và chất trung gian, một số trong số đó có thể góp phần vào sự thoát huyết tương (9, 10). Các yếu tố nguy cơ cá nhân xác định mức độ nghiêm trọng của bệnh bao gồm nhiễm trùng thứ cấp, tuổi, dân tộc và có thể mắc các bệnh mãn tính (hen phế quản, thiếu máu hồng cầu hình liềm và đái tháo đường). Trẻ nhỏ ít có khả năng bù đắp hơn người lớn dễ thoát huyết tương nên có nguy cơ bị sốc sốt xuất huyết cao hơn (9). Các tế bào đích của DENV chủ yếu tế bào của hệ thống lưới nội mô (lá lách, gan, xương tủy), bao gồm bạch cầu đơn nhân, tế bào lympho, Kupffer tế bào, và đại thực bào phế nang.
Người ta nhận thấy có sự hoại tử tế bào gan, hay quá trình chết 7 theo chương trình của các tế bào gan bị nhiễm virus. DENV ức chế tủy xương và hậu quả là làm giảm số lượng tiểu cầu, bạch cầu. Những nghiên cứu đã chỉ ra DENV có thể sao chép tích cực trong các tế bào nội mô mao mạch và hậu quả là gây tổn hại chức năng, từ đó làm tăng tính thấm mao mạch. Người ta nhận thấy rằng NS1 của DENV có ái lực cao với các tế bào nội mô của các mao mạch ở gan và phổi, điều này có thể giải thích quá trình thoát huyết tương hay xảy ra tại đây và hậu quả là gây tràn dịch màng phổi và tràn dịch màng bụng ở bệnh SXHD (11).
Các dòng tế bào nội mô của con người bị nhiễm virus sốt xuất huyết có thể tạo ra chất trung gian gây viêm IL-6, IL-8, yếu tố tăng sinh nội mô mạch máu, hệ thống bổ thể làm tăng tính thấm thành mạch, dịch từ trong lòng mạch sẽ thoát ra ngoài gian bào, dẫn tới hậu quả làm giảm khối lượng máu lưu hành trong mạch máu, máu bị cô đặc dẫn đến sốc. Hiện tượng xuất huyết và rối loạn đông máu có nhiều cơ chế phối hợp có thể là hệ quả của việc giảm tiểu cầu, rối loạn chức năng tiểu cầu, tổn thương thành mạch, giảm yếu tố đông máu khác do gan sản xuất. Hai rối loạn này có thể xảy ra ở bệnh nhân sốt xuất huyết Dengue, chúng tác động lẫn nhau dẫn đến các triệu chứng lâm sàng nặng như xuất huyết và sốc (10, 11). Dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết 1.
Trên thế giới Sốt xuất huyết là bệnh virus do muỗi gây ra có tốc độ lây lan nhanh nhất trên thế giới. Trong 50 năm qua, tỷ lệ mắc bệnh đã tăng gấp 30 lần với sự mở rộng địa lý ngày càng tăng đến các quốc gia mới và trong thập kỷ hiện tại, từ thành thị đến nông thôn (12). Virus sốt xuất huyết được phân phối trên toàn thế giới ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, nơi vectơ Aedes tồn tại là đặc hữu khu vực. Dịch sốt xuất huyết đầu tiên được ghi nhận năm 1635 ở Tây Ấn thuộc Pháp, mặc dù một đợt bùng phát dịch bệnh tương thích với bệnh sốt xuất huyết đã được được báo cáo ở Trung Quốc sớm nhất là vào năm 992 sau công nguyên.
Trong thế kỷ 18, 19 và đầu thế kỷ 20, dịch bệnh của các bệnh giống sốt xuất huyết đã được báo cáo và ghi nhận trên toàn cầu, cả ở nhiệt đới và ôn đới (1). Sự xuất hiện gần như đồng thời của các vụ dịch trên ba lục địa khác nhau chứng tỏ rằng virus gây bệnh cũng như vector truyền bệnh đã phân bố rộng rãi trên toàn thế giới đã từ hơn 200 năm trước. Trong thời 8 gian này Dengue chỉ được xem là bệnh nhẹ. Một vụ đại dịch Dengue xuất hiện ở Đông Nam Á sau Chiến tranh thế giới thứ II và từ đó lan rộng trên toàn cầu.
Khu vực Đông Nam Á (SEA) của WHO, nơi là vùng lưu hành bệnh sốt xuất huyết. Cho đến năm 2003, chỉ có tám quốc gia trong khu vực báo cáo các trường hợp sốt xuất huyết. Đến năm 2009, tất cả các nước thành viên đã báo cáo dịch sốt xuất huyết bùng phát (1). Ở các đô thị, dịch sốt xuất huyết bùng phát liên quan đến số lượng và chất lượng dân số.
Dịch thường bắt đầu vào mùa mưa, khi muỗi vằn A. aegypti vào mùa sinh sản. Muỗi sống ở vùng khí hậu nhiệt đới hoặc một phần trong các vật chứa nước hoặc trong thực vật gần nơi ở của con người. Việc thay đổi về nhân khẩu học và xã hội học dẫn đến đô thị hóa không được kiểm soát đã đặt ra những hạn chế nghiêm trọng đối với cuộc sống của con người, đặc biệt là cung cấp nước và xử lý chất thải rắn, đã làm tăng môi trường sống của các loài vectơ.
Việc gia tăng du lịch hàng không và toàn cầu hóa thương mại đã góp phần đáng kể vào việc lưu thông tất cả các kiểu huyết thanh DENV cho hầu hết các trung tâm cư dân trên thế giới (1).2 Các khu vực bị nhiễm Dengue trên thế giới 1. Tại Việt Nam Ở Việt Nam, bệnh sốt xuất huyết lần đầu tiên được ghi nhận từ những năm 1960, nhờ dịch bệnh sốt xuất huyết ở Hà Nội (phía Bắc của Việt Nam) và Cái Bè 9 (Nam Việt Nam). Gần đây, bệnh sốt xuất huyết đã được báo cáo là ảnh hưởng đến hầu hết các tỉnh của cả nước, và cao điểm lây nhiễm vào tháng 6 đến tháng 10 hàng năm. Do sự phân bố địa lý rộng của muỗi véc tơ và sự lưu hành của cả 4 loại virus Dengue, bệnh sốt xuất huyết có thể nhanh chóng lây lan trên toàn quốc (13) phổ biến nhất là DEN-1 và DEN-2 (14-16).
Cụ thể trong vụ dịch năm 2011, tại Việt Nam đã báo cáo có 69.680 trường hợp mắc SXHD và kết quả nghiên cứu virus học 674 trường hợp cho thấy DEN-1 chiếm ưu thế (DEN-1 chiếm 42%, DEN-2 chiếm 32%, DEN-4 chiếm 18% và DEN-3 chiếm 8%) (16). Tiêu chuẩn chẩn đoán và phân độ lâm sàng của sốt xuất huyết 1.