Chương I Tổng quan quá trình khí hóa than Trong công nghệ sản xuất gạch ceramic 1. Than đá để hoá khí 1.1 - Các nguyên tố tạo thành than đá và tính chất của nó: 1. Than đá: là loại hợp chất hỗn hợp các chất vô cơ và các chất hữu cơ, thành phần chủ yếu của than đá là: Các bon, hyđrô, ôxi, lưu huỳnh, phốt pho.Đồng thời trong than còn có nhiều kim loại như silíc, nhôm, sắt, muối khoáng magiê, canxi, kali, giécmani. Đại đa số các chất liệu liên kể trên đây tồn tại ở trạng thái hợp chất hóa học, cũng có khi tồn tại ở dạng đơn chất.
Tính chất của than đá: 1) Tính chất vật lý của than. Than thường dùng tính chất vật lý nhất gồm có mấy phương diện sau: - Độ hạt của than ( kích cỡ viên than) - Tỷ trọng thật, tỷ trọng khối. - Độ xốp và tỷ lệ diện tích bề mặt. - Cường độ cơ học, cường độ vỡ (độ giòn).
Độ chịu mài mòn và cường độ nén. - Tính ổn định nhiệt. - Tính kết dính. - Tính nóng chảy, phân huỷ tro, độ dính của tro (tính đóng xỉ).
2) Tính chất hoá học của than. - Tính ôxy hoá. - Tính hoàn nguyên - Hoạt tính phản ứng. Mô hình vật lý công nghệ khí hoá than 3 Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Häc viªn: Ph¹m Quèc TuÊn Đại học Bách khoa Hà Nội Hướng dẫn: GS.TSKH Nguyễn Minh Tuyển Để xác định tính chất các mục trên, chúng ta có thể dùng phương pháp vật lý và hoá học để kiểm nghiệm.2 - Các tính chất hoá lý thường dùng để phân tích than đá: - Phương pháp phân tích thể tích: hay dùng chủ yếu phân tích các nguyên tố có trong than như: Hyđrô, Cácbon, ôxi, lưu huỳnh có chứa trong than.
- Phương pháp khối lượng: phân tích các đặc tính của than, phần trăm nước, thành phần các bon cố định, hàm lượng lưu huỳnh, hắc- ín. - Xác định lượng phát nhiệt: Xác định bằng đồng hồ đo nhiệt trị, hoặc thông qua phân tích công nghiệp, phân tích nguyên tố tiến hành tính toán, tính ra số liệu. - Phân tích qua sàng tuyển: Để phân chia độ hạt của than. - Xác định tỷ trọng thật, tỷ trọng ước lượng qua phòng thực nghiệm, xác định tỷ trọng xếp đống (đo khối).
- Xác định thành phần tro: Chủ yếu xác định hàm lượng ôxít silíc, ôxit nhôm, ôxit canxi, ôxit sắt, ôxit magiê chứa trong tro xỉ. - Xác định lớp chất keo: Nội dung chủ yếu là xác định trị số co ngót và độ dày lớp chất keo. - Xác định hệ số giãn nở tự do của than. - Xác định điểm nóng chảy của xỉ: Để xác định nhiệt độ lưu hoá, nhiệt độ bán cầu, nhiệt độ mềm hoá, nhiệt độ bắt đầu biến dạng của than.
- Xác định độ dính của tro điểm nóng chảy và tính đóng xỉ: Để biết được tính năng khi tro xỉ ở trạng thái chảy loãng và tốc độ đóng xỉ. - Xác định hoạt tính phản ứng: Để tính toán ra % khí CO khi phản ứng cháy hoặc tỷ lệ hoàn nguyên khi phản ứng cháy. - Xác định điểm cháy: Biết được nhiệt độ bốc cháy của than xác định mức độ ôxi hoá các loại than. - Xác định tỷ lệ ngậm xít (phần sét cháy kẹp trong than).
Mô hình vật lý công nghệ khí hoá than 4 Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Häc viªn: Ph¹m Quèc TuÊn Đại học Bách khoa Hà Nội Hướng dẫn: GS.TSKH Nguyễn Minh Tuyển 1.3 Đặc trưng của các loại than. Người ta có thể căn cứ vào niên đại của thành phần chứa trong than để phân chia thành các loại than khác nhau: Than lâu năm thường có độ bốc thấp, than non thường có độ bốc cao. Độ dày lớp keo thì than non và than lâu năm thấp, than trung niên cao. Đặc trưng mỗi loại than này như sau: 1) Than không khói: Đây là một loại than đá đã hình thành có niên đại khá lâu, nên tỷ trọng thật của nó tương đối lớn từ 1,4-1,9.
Nó có bề mặt óng ánh, hàm lượng các bon cố định cao, độ bốc thấp 6-10%, tương đối cứng, tính ổn định về nhiệt kém, hoạt tính phản ứng thấp. Trong công nghiệp khí hoá thường dùng làm nguyên liệu hỗn hợp cho lò phát sinh khí than và nồi hơi. Cường độ hoá khí của loại than này không cao, khi đốt có khói vàng (tức là sản sinh ra vật chất bốc) tương đối ít. 2) Than nghèo: Tức là loại than phần trăm độ bốc thấp dưới 20%.
Loại than này có niên đại khá lâu, sau khi thu nhiệt nó không sinh ra keo, có thể dùng làm nguyên liệu hoá khí thấp. Trong môi trường cường độ khí hóa trung bình, có thể là nguyên liệu gốc. 3) Than cốc: Than cốc là than dùng làm nguyên liệu chủ yếu để luyện cốc. Sau khi thu nhiệt nó có khả năng sản sinh ra một loại keo có tính ổn định nhiệt cao, tạo ra than cốc có cường độ cao, nhưng loại than này không thích hợp dùng cho hoá khí, bởi vì khi cho vào lò thì tầng chưng sẽ kết dính lại trong lò, độ bốc lớn tới 30%, chiều dày lớp keo tới 8-25mm.
4) Than béo (than mỡ): Than mỡ có chiều dày lớp keo lên tới 26-37mm, than này cũng là than nguyên liệu dùng để luyện cốc, độ bốc của loại than này từ 26- 37%, than này không dùng hoá khí. 5) Than khí: Than khí có độ bốc rất cao 30-37%, độ dày lớp keo rất lớn từ 5- 25mm, cho nên trong lò luyện cốc nó sinh ra lượng khí than khá lớn vì thế Mô hình vật lý công nghệ khí hoá than 5 Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Häc viªn: Ph¹m Quèc TuÊn Đại học Bách khoa Hà Nội Hướng dẫn: GS.TSKH Nguyễn Minh Tuyển người ta gọi là than khí. Nó là loại than được dùng phối hợp để luyện cốc, nếu dùng riêng nó hoá khí thì không tốt vì cacbon cố định của nó thấp. 6) Than dính kết yếu: Than này chiều dày lớp chất keo mỏng (dưới 9mm), độ bốc cao >20-37%: nó thích hợp dùng để hoá khí.
7) Than không dính kết: Nó là loại than đá non, có thể dùng làm nguyên liệu hoá khí, cường độ cơ học tương đối kém, thuỷ phần cao. 8) Than có ngọn lửa dài: Than này có độ bốc cao >37%, dùng làm nguyên liệu hoá khí tốt, nhưng hàm lượng hắc-ín cao. 9) Than nâu: Than nâu là loại than non, hoá khí kém, màu sắc của nó không hoàn toàn sáng rõ, chỉ là màu nâu nên gọi là than nâu, độ bốc than nâu cao >40%, thuỷ phần cao, tính ổn định nhiệt kém, hàm lượng hắc-ín cao, hiệu suất sinh khí thấp, ít được dùng làm nguyên liệu hoá khí. Chín loại than cơ bản nói trên tựu chung: lại có thể chia thành ba loại than chính như sau: 1).
Than không khói: than cốc, than grafít. Than có khói bao gồm: Than gầy, than nghèo, than cốc, than mỡ, than khí, than dính kết yếu, than không dính kết và than có ngọn lửa dài. Than nâu: Tất cả các loại than kể trên đều là những khoáng vật trầm tích, do biến đổi các thực vật cao cấp hàng triệu năm mà chuyển hoá thành than.4 Nguyên tắc lựa chọn than để hoá khí. Dựa vào nguyên cầu của chất lượng tiêu chuẩn than dùng cho lò phát sinh khí than- Qua thực tế sử dụng đã đúc rút ra mười tiêu chuẩn sau đây để làm cơ sở lựa chọn than làm nguyên liệu hoá khí trong lò phát sinh khí than như sau: Nếu than dùng hoá khí không thoả mãn một trong các chỉ tiêu sau đây thì tất nhiên không nên cho vào lò hoá khí, nếu ta cứ dùng thì việc hoá khí sẽ kém hiệu quả, chấtl ượng khí sẽ thấp, lượng than tiêu hao lớn, dễ dẫn đến sự cố cho lò và hệ thống thiết bị tĩnh hoá.
Mô hình vật lý công nghệ khí hoá than 6 Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Häc viªn: Ph¹m Quèc TuÊn Đại học Bách khoa Hà Nội Hướng dẫn: GS.TSKH Nguyễn Minh Tuyển Đối với than dùng làm nguyên liệu hoá khí thì tầng cố định phải là: 1) Điểm nóng chảy của xỉ phải cao thì mới nâng cao được nhiệt độ của tầng ôxi hoá và mới đạt được tính ổn định cho lò, đồng thời mới nâng cao tốc độ phản ứng hoá khí và bảo đảm tính hoàn nguyên trong quá trình phản ứng hoá khí. Điểm nóng chảy của xỉ phải từ 1250 0C trở lên. 2) Tính kết dính của than: Nếu ta xác định được độ bốc của than thì ta sẽ biết được đặc trưng thiêu kết xỉ của than, phải lựa chọn than có đặc trưng thiêu kết xỉ ở mức số 3 để đảm bảo cho tầng chưng không bị kết dính trong lò. 3) Chọn than có độ tro thấp, độ tro thấp tức là phần trăm cácbon cố định cao thì sản lượng khí than cao.
4) Chọn than có độ bốc thích hợp, trong sản xuất khí than nguội khi dùng than nguyên liệu là than khói, ta nên chọn than có độ bốc vừa phải khoảng 22-30%. Nếu độ tro cao, độ bốc cao thì cácbon cố định của nó sẽ thấp. 5) Tình trạng bên ngoài của than, than có màu sáng đen, ít ngậm xít. 6) Than có kết cấu từng cục, có độ hạt đồng đều, nếu là than khói phải dùng cỡ hạt 25-100mm, khi dùng than không khói ta nên dùng cỡ hạt từ 13-75mm.
Không nên dùng cỡ hạt trên 75mm đối với than không khói. 7) Than có hàm lượng lưu huỳnh thấp. 8) Chọn than có thuỷ phần càng thấp càng tốt. 9) Chọn than có phần trăm cácbon cố định cao.
10) Chọn than có cường độ chịu va đập cao (khó dòn vỡ).5 Khả năng hỗn hợp các loại than khác nhau để cho vào lò hoá khí Như trên ta đã biết mỗi loại than có tính năng hoá khí khác nhau, nhất là điểm nóng chảy của xỉ, tính kết dính và hoạt tính phản ứng cũng khác. Độ dày khống chế tầng liệu, nhiệt độ than ra lò, nhiệt độ bão hoà và cường độ hoá khí. Cho nên ta đem các loại than có tính năng khác nhau để trộn vào lò hoá khí thì ta khó xác định được các thông số kỹ thuật để thao tác lò bởi vì: Mô hình vật lý công nghệ khí hoá than 7 Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Häc viªn: Ph¹m Quèc TuÊn Đại học Bách khoa Hà Nội Hướng dẫn: GS.TSKH Nguyễn Minh Tuyển - Nếu than có tính kết dính mạnh thì không nên thao tác để tầng liệu dày, ngược lại nếu than kém kết dính hoặc không có tính kết dính thì ta thao tác để tầng liệu dày lên. Mục đích tránh hiện tượng tầng chưng bị kết dính tạo cho trở lực lưu thông của phản ứng hoá khí trong lò lớn lên làm giảm sản lượng khí than.