Mở đầu • Chương II: Nguyên lý bảo vệ so lệch máy biến áp • Chương III: Mô phỏng tính toán bảo vệ so lệch sử dụng Matlab/Simulink 2 Lê Hồng Thủy Luận văn cao học • Chương IV: Thí nghiệm sự làm việc của rơ le kỹ thuật số bảo vệ so lệch máy biến áp 7UT613 với các bản ghi sự cố đã được mô phỏng. So sánh đánh giá và kết luận. • Chương V: Kết luận 3 Lê Hồng Thủy Luận văn cao học CHƯƠNG II NGUYÊN LÝ BẢO VỆ SO LỆCH MÁY BIẾN ÁP 2.1 Nguyên lý cơ bản bảo vệ so lệch máy biến áp (87T) Các hệ thống bảo vệ so lệch làm việc theo nguyên lý so sánh dòng điện và vì vậy cũng được hiểu như hệ thống cân bằng dòng. Sơ đồ nguyên lý bảo vệ so lệch máy biến áp: Hình 2.1 Sơ đồ nguyên lý bảo vệ so lệch máy biến áp Chúng sử dụng nguyên tắc trên thực tế (hình vẽ) là dòng I rời khỏi một đối tượng bảo vệ trong điều kiện bình thường phải bằng dòng đưa vào nó.
Bất cứ sự sai lệch nào cũng chỉ thị sự cố bên trong vùng bảo vệ. Các cuộn dây thứ cấp của các biến dòng CT1 và CT2 có cùng tỷ số biến có thể được nối để có được các dòng điện như hình vẽ. Thành phần đo M được nối tại điểm cân bằng điện. Trong điều kiện vận hành bình thường sẽ không có dòng chảy qua thành phần đo M.
Khi có sự cố bên trong các biến dòng, các dòng điện ở mỗi đầu không bằng nhau, thành phần đo M đo được dòng I 1 +I2 tỷ lệ với i1+i2 tổng của hai dòng sự cố chảy qua. Nếu dòng điện I1 +I2 này đủ lớn cho thành phần đo M, hệ thống này sẽ cung cấp một bảo vệ đơn giản phân biệt được dòng sự cố. 4 Lê Hồng Thủy Luận văn cao học Khi có một sự cố bên ngoài gây ra dòng ngắn mạch lớn chảy qua vùng bảo vệ, các đặc tính từ hoá khác nhau của các máy biến dòng trong điều kiện bão hoà có thể gây ra dòng đáng kể chảy qua M. Nếu độ lớn của dòng này nằm trên ngưỡng tác động, hệ thống có thể đưa ra lệnh cắt.
Việc hãm chống lại việc tác động sai của bảo vệ. Ở các máy biến áp thông thường các dòng thứ cấp của các biến dòng không bằng nhau khi một dòng chảy qua máy biến áp, nhưng tuỳ thuộc vào tỷ số biến và tổ đấu dây của máy biến áp được bảo vệ và dòng điện định mức của các máy biến dòng ở hai phía của máy biến áp. Vì vậy dòng điện các phía phải được làm phù hợp để có thể so sánh được. Việc điều chỉnh cho phù hợp với các máy biến áp có công suất và tổ đấu dây khác nhau (cho bảo vệ máy biến áp) được thực hiện bằng toán học hoàn toàn.
Thông thường không đòi hỏi các biến dòng trung gian. Các dòng đưa vào được chuyển đổi theo dòng định mức của máy biến áp. Điều này có được bằng cách đưa số liệu định mức của máy biến áp vào rơ le, đó là: Công suất định mức, điện áp định mức và dòng điện định mức của các biến dòng. Vì tổ đấu dây đã được đưa vào nên rơ le có khả năng so sánh dòng theo công thức cố định.
Việc chuyển đổi dòng được thực hiện bằng các ma trận, hệ số được lập trình mô phỏng các dòng điện so lệch trong các cuộn dây máy biến áp. Tất cả các tổ đấu dây rơ le đều có thể hiểu được (bao gồm đổi pha).1 Đánh giá giá trị đo được Sau khi các dòng nhận vào được làm cho phù hợp có tính đến tỷ số biến nhóm véc tơ và cách đối xử với các dòng thứ tự không, các bảo vệ cần thiết cho bảo vệ so lệch được tính toán từ IA , I B , IC của từng cuộn dây. Trong các phần chú giải sau các chỉ số sẽ được dùng để phân biệt các cuộn dây: 1 cho cuộn sơ cấp (điện áp cao hơn) của máy biến áp, 2 cho cuộn thứ cấp (điện áp thấp hơn) và 3 cho cuộn thứ 3 đối với máy biến áp 3 cuộn dây nếu sử dụng. 5 Lê Hồng Thủy Luận văn cao học Trong các hệ thống bảo vệ so lệch cho các đối tượng bảo vệ hai phía, một đại lượng hãm thường được lấy từ dòng sai lệch |I 1 - I2| hoặc từ tổng số học |I1| + |I2|.
Cả 2 phương pháp đều như nhau ở một số giải thuật thích hợp của các đặc tính hãm. Trong các hệ thống bảo vệ so lệch cho đối tượng bảo vệ 3 phía, máy biến áp 3 cuộn dây việc hãm chỉ có thể thực hiện với tổng số học |I 1| + |I2| + |I 3|. Phương pháp này được sử dụng trong rơ le cho tất cả các đối tượng bảo vệ (máy biến áp 2 hoặc 3 cuộn dây). Nó đòi hỏi tạo ra tổng véc tơ và tổng đại số của các dòng điện cho từng cuộn dây.
Các định nghĩa sau được sử dụng: Dòng so lệch hoặc tác động cắt Idiff = |I 1 + I2| (2 cuộn dây). Và dòng làm ổn định hoặc hãm : Istab = |I1 | + |I2| (2 cuộn dây). Idiff được tính toán từ các dòng điện cơ bản và tạo ra đại lượng gây ra lệnh cắt, Istab chống lại ảnh hưởng này.2: Nguyên lý của bảo vệ so lệch 6 Lê Hồng Thủy Luận văn cao học Để làm sáng tỏ 3 điều kiện vận hành quan trọng sẽ được xem xét: a. Dòng chảy qua máy biến áp vận hành bình thường hoặc khi có sự cố bên ngoài.
I2 đổi hướng của nó vì vậy đổi dấu, I 2 =- I1 do vậy |I2 | =| I1| Idiff = |I 1 + I2|= |I1 -I1| = 0 Istab = |I1 | + |I2| = |I1 + I 1|= 2.|I1 | Dòng tác động bằng 0 (Idiff = 0), dòng hãm (Istab) tỷ lệ với 2 lần dòng chảy qua. Ngắn mạch bên trong mỗi phía được cấp bởi các dòng giống nhau: Trong trường hợp này: I2 = I1 do vậy |I2| =| I1| Idiff = |I 1 + I2|= |I 1 + I 1|=2.|I1| Các thành phần tác động cắt (I diff) và hãm (Istab) bằng và tỷ lệ với tổng dòng sự cố. Ngắn mạch bên trong chỉ cấp dòng từ một phía: Trong trường hợp này I2 = 0 Idiff = |I 1 + I2|= |I 1 + 01|= |I1| Istab = |I1 | + | I 2| = |I1| + 0 = |I 1| Các thành phần tác động cắt (Idiff) và hãm (Istab) bằng và tỷ lệ với dòng sự cố cấp từ một phía. Kết quả này cho thấy rằng với sự cố bên trong Idiff = Istab.
Vì vậy đặc tính sự cố bên trong là một đường thẳng với độ dốc =1. Như vậy nếu sử dụng đồ thị có một trục là dòng hãm, một trục là dòng so lệch thì tọa độ của các điểm ứng với sự cố trong vùng sẽ nằm trên 1 đường thằng góc 45º như trên hình vẽ: 7 Lê Hồng Thủy Luận văn cao học Hình 2.3 : Đặc tính làm việc Trên hình 2-3 đưa ra đặc tính làm việc đầy đủ của rơle: - Nhánh a: Biểu thị dòng điện khởi động ngưỡng thấp Idiff> của bảo vệ, được xác định trên sai số cố định của dòng điện so lệch. Dòng điện này phụ thuộc vào dòng từ hóa của máy biến áp. - Nhánh b: Đoạn đặc tính xem như là dòng điện tỷ lệ thuận với dòng sự cố, với nguyên tắc khi có dòng sự cố tăng thì sai số do các máy biến dòng cũng tăng lên.
Nhánh này được sử dụng để ngăn ngừa sự tăng lên của dòng điện so lệch trong điều kiện làm việc bình thường, khi có sự thay đổi đầu phân áp của máy biến áp điều áp dưới tải. - Nhánh c: trong dải dòng điện tăng cao làm tăng độ bão hòa từ máy biến dòng xuất hiện hiện tượng các máy biến dòng bão hòa không giống nhau vì vậy ngưỡng tác động cần phải được tăng lên nhiều hơn. Trong phạm vi này, độ bão hòa của các máy biến dòng ở mức cao nên nhánh c có độ dốc cao hơn nhánh b. 8 Lê Hồng Thủy Luận văn cao học - Nhánh d: Đoạn biểu thị giá trị khởi động ngưỡng cao Idiff>> của bảo vệ.
Khi dòng so lệch vượt quá ngưỡng cao này bảo vệ sẽ tác động không có thời gian, và không quan tâm đến dòng điện hãm và các sóng hài sử dụng để bảo vệ. Qua hình vẽ ta thấy đường đặc tính sự cố luôn nằm trong vùng tác động. Các dòng điện so lệch và dòng điện hãm được biểu diễn trên hệ trục tọa độ theo đơn vị tương đối định mức.2 Hãm hài - Khi các dòng so lệch có thể gây ra không chỉ từ các sự cố bên trong máy biến áp mà còn từ dòng từ hoá máy biến áp khi đóng máy biến áp , nối song song máy biến áp hoặc một máy biến áp bị quá điện áp, chúng sinh ra các thành phần sóng hài. Dòng từ hoá có thể lớn gấp nhiều lần dòng định mức và thành phần chủ yếu là sóng hài bậc 2 (gấp đôi tần số định mức).
Trên thực tế sóng hài bậc 2 không có mặt trong các trường hợp sự cố ngắn mạch. Nếu thành phần bậc hai vượt quá ngưỡng (có thể chọn), lệnh cắt bị khoá. Vì hãm dòng từ hoá làm việc độc lập cho từng pha, bảo vệ vẫn làm việc hoàn toàn ngay cả khi đóng máy biến áp vào sự cố một pha, khi đó dòng từ hoá có thể xuất hiện chỉ ở các pha không có sự cố. Tuy vậy cũng có thể đặt bảo vệ để không chỉ pha có dòng từ hoá chứa sóng hài vượt quá ngưỡng cho phép được hãm mà những pha khác của cấp bảo vệ so lệch I diff, cũng bị khoá (được gọi là "chức năng khoá chéo").
Chức năng khoá chéo này có thể bị giới hạn trong khoảng thời gian chọn trước. Bên cạnh sóng hài bậc 2, sóng hài khác cũng có thể được lựa chọn để khoá bảo vệ. Có thể chọn sóng hài bậc 3, 4 và 5. Sóng hài bậc 4 có thể thấy giống như sóng hài bậc 2 trong các dòng từ hoá không đối xứng.
- Khi vào thời điểm đóng máy biến áp không tải hoặc máy biến áp chịu những điện áp xung kích quá từ hoá lõi thép máy biến áp đặc trưng bởi sự xuất hiện các 9 Lê Hồng Thủy Luận văn cao học thành phần sóng hài bậc lẻ trong dòng điện. Vì vậy sóng hài bậc 3 và bậc 5 thích hợp để phát hiện ra những hiện tượng này.