Đặt vấn đề Thức ăn thô xanh bao gồm các loại: cỏ tươi, thân cây tươi, thân lá ngô non tươi, ngọn lá mía tươi, các loại rau tươi… Thức ăn thô xanh đóng vai trò hết sức quan trọng và không thể thay thế đối với gia súc ăn cỏ nói chung và cho bò nói riêng. Mặc dù có khả năng tự kiếm ăn cao, tuy nhiên, do tầm vóc, khối lượng lớn nên trâu, bò đòi hỏi lượng thức ăn lớn. Mỗi ngày, một con trâu bò có thể sử dụng tới 30 - 50 kg thức ăn (Orskov, 1994) [34]. Vì vậy, để phát triển chăn nuôi trâu bò hiệu quả cần diện tích bãi chăn thả và trồng cây thức ăn cho chúng.
Nhưng với thực trạng giao đất sản xuất, khai thác nguồn quỹ đất của các địa phương hiện nay đã làm cho diện tích chăn thả gia súc ngày càng trở nên thu hẹp; chất lượng cỏ tự nhiên kém, vừa thiếu vừa nghèo dinh dưỡng. Đặc biệt là đặc điểm khí hậu thời tiết ngày càng diễn biến phức tạp, ở miền núi Bắc bộ, vào mùa đông, thời tiết khí hậu khắc nghiệt, trời lạnh giá, khô hanh cỏ không mọc được dẫn đến thức ăn khan hiếm, chất lượng thức ăn kém, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe trâu bò, làm cho trâu bò ở các tỉnh miền núi bị chết rét khá nhiều, gây tổn thất rất lớn cho người nông dân, đặc biệt là các hộ đồng bào dân tộc nghèo ở vùng cao, cuộc sống chủ yếu phụ thuộc vào kết quả chăn nuôi. Vì vậy, việc chế biến, dự trữ và sử dụng thức ăn thô xanh nhằm đáp ứng đầy đủ thức ăn và đảm bảo về dinh dưỡng cho trâu, bò trong trong mùa đông là hết sức quan trọng. Xuất phát từ thực tế đó, dưới sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn, tôi thực hiện nghiên cứu đề tài "Nghiên cứu chế biến và sử dụng thức ăn thô xanh bổ sung cho chăn nuôi bò trong vụ Đông - Xuân 2013 - 2014 tại Bắc Kạn".
n 14 * Mục tiêu của nghiên cứu - Xác định được công thức chế biến và sử dụng thức ăn thô xanh phù hợp để bổ sung cho chăn nuôi bò trong vụ đông xuân. - Giải quyết vấn đề chất lượng thức ăn cho bò trong vụ đông. - Xác định được công thức chế biến và sử dụng thức ăn thô xanh phù hợp. - Số liệu thu thập phải chính xác.
* Ý nghĩa của nghiên cứu * Ý nghĩa khoa học - Nghiên cứu giúp đáp ứng đầy đủ nguồn thức ăn và dinh dưỡng trong thức ăn để bò có sức khỏe tốt. Nâng cao khả năng chịu rét và giảm tỉ lệ bò chết trong vụ đông. * Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả của đề tài là cơ sở để hướng dẫn người dân chế biến và sử dụng thức ăn thô xanh hợp lý cho chăn nuôi bò trong vụ đông nhằm nâng cao sức khỏe, khả năng chịu rét và giảm tỉ lệ bò chết trong vụ đông. Góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy chăn nuôi bò phát triển bền vững.
Tổng quan tài liệu 2.1 Cơ sở khoa học 2. Bò vàng Việt Nam Bò Vàng Việt Nam có nguồn gốc xuất phát từ bò châu Á (Bosindicus). Bò được nuôi để lấy thịt, cày kéo và lấy phân bón. Hầu hết chúng có lông da màu vàng, vàng nhạt nên gọi là bò Vàng Việt Nam và gọi theo địa danh: bò Thanh Hóa, bò Cao Bằng, bò Lạng Sơn, bò Nghệ An, bò Phú Yên, bò Mông (Hà Giang) …Ngoại hình bò Vàng cân xứng.
Đầu con cái đầu thanh, sừng ngắn; con đực đầu to, sừng dài chĩa về phía trước; mạch máu và gân mặt nổi rõ. Mắt tinh, lanh lợi. Cổ con cái thanh, cổ con đực to; lông thường đen. Yếm kéo dài từ hầu đến xương ức.
Da có nhiều nếp nhăn. U vai con đực cao, con cái không có. Lưng và hông thẳng, hơi rộng. Bắp thịt nở nang.
Mông hơi xuôi, hẹp và ngắn. Ngực phát triển tốt, sâu nhưng hơi lép. Bụng to, tròn nhưng không sệ. Bốn chân thanh, cứng cáp; 2 chân trước thẳng, 2 chân sau đi thường chạm kheo.
n 15 Khối lượng của bò trưởng thành: Con đực nặng 250 - 280 kg, con cái 160 - 180 kg. khả năng sinh sản tốt, tuổi đẻ lứa đầu khá sớm: 30 - 32 tháng. Sản lượng sữa thấp: 300 - 400 kg/chu kỳ, tỷ lệ mỡ sữa cao: 5,5%. Tốc độ sinh trưởng chậm, tỷ lệ thịt xẻ thấp: 45%.
- Ưu điểm: Bò thành thục sớm, mắn đẻ, khả năng thích nghi cao, chịu đựng kham khổ tốt, ít bệnh tật. - Nhược điểm: Ngoại hình xấu (thấp ngắn, mình lép, mông lép, ngực lép, trán lõm.), Tầm vóc nhỏ bé, không thể dùng làm nền để lai tạo với các giống bò chuyên thịt hoặc sữa. Tốc độ sinh trưởng chậm. Khả năng sản xuất thấp về mọi mặt, giá trị kinh tế thấp.
Sinh lý tiêu hóa của trâu, bò a) Cấu tạo bộ máy tiêu hóa của trâu, bò Bộ máy tiêu hóa của bò nói riêng và của động vật nhai lại nói chung bao gồm: Răng miệng, thực quản, dạ dày 4 túi (dạ dày trước và dạ dày thực), ruột non, ruột già. Khả năng sử dụng được nguồn thức ăn nhiều xơ của trâu, bò là nhờ cấu tạo đặc biệt của đường tiêu hóa tạo cơ hội cho quá trình lên men của vi sinh vật diễn ra trước quá trình lên men của đường ruột, đây là sự khác biệt cơ bản giữa hệ tiêu hóa của động vật nhai lại và động vật dạ dày đơn. - Dạ dày của động vật nhai lại gồm 4 túi: Dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách và dạ múi khế. Ba dạ đầu được gọi chung là dạ dày trước, dạ này không có các tuyến dịch vị mà chỉ có tế bào phụ tiết dịch nhầy, dạ múi khế có các tuyến tiêu hóa.
+ Dạ cỏ: Là một túi đặc biệt nhất, trong đó hàng loạt phản ứng sinh hóa học được tiến hành liên tục, tiêu hóa ở dạ cỏ chiếm một vị trí rất quan trọng trong quá trình tiêu hóa của gia súc nhai lại. Có đến 50% vật chất khô (VCK) của khẩu phần được tiêu hóa ở dạ cỏ. Trong dạ cỏ, các chất hữu cơ của khẩu phần được biến đổi không phải bằng sự tham gia của các enzym tiêu hóa của vật chủ mà nhờ vai trò phân giải của các vi sinh vật (nấm, vi khuẩn, động vật nguyên sinh) cộng sinh trong đó. Dạ cỏ nằm bên trái xoang bụng, chiếm 2/3 dung tích của dạ dày.
Dạ cỏ nối với dạ tổ ong bằng một miệng lớn do vậy sự di chuyển thức ăn thô xanh được dễ dàng hơn. Bên vách dạ cỏ có một lớp cơ bao bọc, giúp cho việc co n 16 bóp, nhào trộn thức ăn được tốt. Màng phía trong có hệ mạch máu phát triển, nhung mao dạ cỏ rất phát triển đã làm tăng bề mặt của dạ cỏ lên gấp 7 lần. Do vậy, phần lớn các axit béo bay hơi (ABBH) tạo ra trong quá trình lên men đã được hấp thu qua niêm mạc dạ cỏ (khoảng 85% ABBH được hấp thu qua niêm mạc dạ cỏ, dạ tổ ong).
+ Dạ tổ ong: Có cấu trúc giống như một chiếc tổ ong, làm tăng bề mặt tiếp xúc với thức ăn. Chức năng của dạ tổ ong là tham gia vào quá trình lên men thức ăn, đồng thời nó còn có chức năng đẩy phần thức ăn dạng lỏng chuyển xuống dạ lá sách. Dạ tổ ong còn giúp đẩy các viên thức ăn lên miệng để nhai lại. + Dạ lá sách: Có hình cầu, mặt trong được phủ một lớp nhu mô ngắn, được cấu trúc như một quyển sách nhờ có các tấm mỏng xếp lại với nhau.
Trên bề mặt của dạ lá sách có nhiều ngăn nhỏ đã làm tăng diện tích bề mặt lên 28%. Chức năng chính của nó là lọc thức ăn và hấp thu các chất điện giải và khoảng 10% các ABBH. + Dạ múi khế (dạ dày thực) : Có nhiều nếp gấp ở bên trong để tăng thêm diện tích hấp thu và là phần dạ dày duy nhất có tuyến tiêu hóa. Rãnh thực quản kéo dài từ vùng thượng vị tới dạ lá sách được hình thành do hai lớp cơ gấp, có thể đóng để lượng thức ăn lỏng thông xuống thẳng dạ múi khế mà không qua dạ cỏ (trong thời kỳ gia súc non).
Dạ múi khế có chức năng như một dạ dày đơn. Tại đây sinh khối vi sinh vật (VSV) được các enzym của dạ múi khế phân giải và tiếp tục được tiêu hóa, hấp thu ở ruột non. - Ruột non: Ruột non ở gia súc nhai lại có cấu tạo và chức năng tương tự như gia súc dạ dày đơn. Trong ruột non có các enzym tiêu hoá tiết qua thành ruột và tuyến tuỵ để tiêu hoá các loại tinh bột, đường, protein và lipid, những phần thức ăn chưa được tiêu hoá ở dạ cỏ và sinh khối vi sinh vật được đưa xuống từ dạ cỏ.
Ruột non còn làm nhiệm vụ hấp thu nước, khoáng, vitamin và các sản phẩm tiêu hoá ở ruột non. - Ruột già: Có chức năng lên men, hấp thu và tạo phân. Trong phần manh tràng có hệ vi sinh vật tương tự như trong dạ cỏ có vai trò lên men các sản phẩm đưa từ trên xuống. Đối với gia súc nhai lại lên men vi sinh vật ở manh tràng là lên men thứ cấp, còn đối với một số động vật ăn cỏ dạ dày đơn (ngựa, thỏ) thì lên men vi sinh vật ở manh tràng lại là hoạt động tiêu hoá n 17 chính.
Các axit béo bay hơi sinh ra trong ruột già được hấp thu tương tự như ở dạ cỏ, nhưng xác vi sinh vật không được tiêu hoá tiếp mà thải ra ngoài quan phân. Trực tràng có tác dụng hấp thu nước, tạo khuôn và tích trữ phân. b) Hệ vi sinh vật dạ cỏ của trâu bò * Vi khuẩn (Bacteria) Vi khuẩn xuất hiện trong dạ cỏ loài nhai lại ở lứa tuổi còn non ngay cả khi chúng được nuôi tách biệt hoặc nuôi cùng gia súc mẹ. Thông thường vi khuẩn chiếm số lượng lớn nhất trong VSV dạ cỏ và chúng được coi là thành phần quan trọng bậc nhất trong việc phân giải chất xơ và sinh tổng hợp protein từ amoniac (NH3).
Tổng số vi khuẩn trong dạ cỏ dao động từ 109 - 1011 tế bào/ml chất chứa dạ cỏ và có hơn 200 loài đã được xác định. Lượng sinh khối vi khuẩn chiếm 50% tổng sinh khối của VSV dạ cỏ (Nguyễn Xuân Trạch và cs, 2006) [25]; (Nguyễn Văn Bình và Trần Văn Tường, 2007) [1]. Trong dạ cỏ, vi sinh vật sống ở thể tự do chiếm khoảng 30%, phần còn lại sống bám vào các mẩu thức ăn, trú ngụ vào các nếp gấp biểu mô và bám vào protozoa (Forsberg và Lam, 1977) [31].