Chương 1: Cơ sở lý luận và mua bán và sát nhập (M&A), sự lựa chọn phương thức thanh toán trong M&A Chương 2: Phân tích sự lựa chọn phương thức thanh toán cho M&A của các tổ chức tài chính Việt Nam Chương 3: Gợi ý phương thức thanh toán phù hợp trong các thương vụ M&A của các tổ chức tài chính Việt Nam 6 PHẦN II: NỘI DUNG, KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG1: CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC TÀI CHÍNH, PHƢƠNG THỨC THANH TOÁN TRONG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP 1. Tổng quan về mua bán và sáp nhập 1. Khái niệm về mua bán và sáp nhập Yadaw AK và Kumar BR (2005) cho rằng sáp nhập và mua lại (M&A) là một phương tiện trong kinh tế mà các doanh nghiệp sử dụng để mở rộng danh mục sản phẩm, nhập mới thị trường, tiếp thu công nghệ mới, tiếp cận với nghiên cứu và phát triển, khả năng tiếp cận các nguồn tài nguyên cho phép các công ty cạnh tanh trên quy mô toàn cầu. &P Nayak (2007) mua lại là một phần hành động kiểm soát hiệu quả của một công ty đối với tài sản hoặc quản lý (mua tài sản mua cổ phiếu, giành quyền kiểm soát thông qua hội đồng quản trị) của một công ty khác mà không cần sự kết hợp hay thống nhất về mặt tổ chức trước.
Nói chung một công ty mua lại (công ty đi mua) sẽ kiểm soát hiệu quả hơn các công ty mục tiêu bằng cách mua lại cổ phần đa số của công ty đó. Tuy nhiên, hiệu quả kiểm soát có thể được thực hiện chỉ cần với một số lượng ít cổ phần hơn bình thường thường dao động từ 10% đến 40% bởi vì các cổ đông còn lại phân bố rải rác và tồn tại các các nhóm quyền lợi, không có khả năng thách thức sự kiểm soát của việc mua lịa thâu tóm. Theo Kishoe & Ravi M. (2009) sáp nhập được cho là xảy ra khi hai hay nhiều công ty kết hợp thành một công ty.
Sáp nhập được định nghĩa là một giao dịch liên quan đến hai hoặc nhiều hơn các công ty trong trao đổi chứng khoán và chỉ có một công ty tồn tại. Khi các cổ đông của nhiều công ty, hai công ty hoặc nhiều hơn quyết định dành nguồn lực của công ty dưới một tổ chức bao trùm nó được gọi là sáp nhập, một công ty mới được hình thành được gọi là hợp nhất. Theo thông lệ quốc tế và cách hiểu của nhiều nước trên thế giới, mua lại và sáp nhập (M&A) được định nghĩa như sau: Merger (sáp nhập): sáp nhập xảy ra khi hai công ty, thường là các công ty có cùng quy mô, đồng ý tiến tới thành lập một công ty mới hơn và duy trì sở hữu và hoạt động của các công ty thành phần. Chứng khoán của các công ty thành phần sẽ được 7 xóa bỏ và công ty mới sẽ phát hành chứng khoán thay thế.
Các công ty bị sáp nhập sẽ chấm dứt hoạt động, công ty mới được thành lập và phát hành chứng khoán thay thế. Acquisition (mua lại): Mua lại là hoạt động thông qua đó các công ty tìm kiếm lợi ích kinh tế nhờ quy mô, hiệu quả và khả năng chiếm lĩnh thị trường. Khác với sáp nhập, các công ty thâu tóm sẽ mua công ty mục tiêu, không có sự thay đổi về chứng khoán hoặc sự hợp nhất thành một công ty mới. Dưới góc độ pháp độ pháp lý, công ty mục tiêu bị chấm dứt sự tồn tại, công ty mua sẽ có quyền kiểm soát, quản lý và quyết định hoạt động kinh doanh của công ty mục tiêu, chứng khoán của công ty mua vẫn tiếp tục được giao dịch.
Công ty mục tiêu sẽ chấm dứt hoạt động, chứng khoán của công ty thâu tóm vẫn tiếp tục được giao dịch bình thường. Theo thông tư 36/2015/TT-NHNN sáp nhập và hợp nhất được định nghĩa như sau: Sáp nhập tổ chức tín dụng: là việc một hoặc một số tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ chức tín dụng bị sáp nhập) chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang một tổ chức tín dụng khác (sau đây gọi là tổ chức tín dụng nhận sáp nhập), đồng thời chấm dứt sự tồn tại của tổ chức tín dụng bị sáp nhập. Hợp nhất tổ chức tín dụng: là việc hai hoặc một số tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ chức tín dụng bị hợp nhất) chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp để hình thành một tổ chức tín dụng mới (sau đây gọi là tổ chức tín dụng hợp nhất), đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các tổ chức tín dụng bị hợp nhất. Phân loại M&A Phân loại sáp nhập Căn cứ vào mối quan hệ cạnh tranh giữa các bên liên quan với nhau trong hoạt động sáp nhập, sáp nhập sẽ chia thành sáp nhập ngang sáp nhập dọc và sáp nhập tổ (Lưu Minh Đức, 2007).
Sáp nhập ngang (Horizontal Merger): là sự sáp nhập giữa hai công ty kinh doanh trong cùng một lĩnh vực. Kết quả từ thương vụ này sẽ đem lại cho bên sáp nhập cơ hội mở rộng thị trường, kết hợp giảm thiểu chi phí cố định, tăng cường hiệu quả kênh phân phối. Sáp nhập theo chiều dọc (Vertical Merger): là sự sáp nhập giữa hai công ty nằm trên cùng một chuỗi cung ứng, các công ty đảm nhận một qui trình khác nhau 8 trong quá trình sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ dẫn tới sự mở rộng về phía trước hoặc phía sau của công ty sáp nhập trên cuỗi cung ứng đó. Do đó, sáp nhập dọc gồm có: Sáp nhập tiến: thương vụ này diễn ra khi một công ty mua lại công ty phân phối sản phẩm của mình, hình thành nên một công ty mới với sự tham gia vào chuỗi giá trị gần như khép kín.
Sáp nhập lùi: thương vụ này diễn ra khi một công ty mua lại công ty cung cấp nguyên liệu đầu vào của mình. Sáp nhập tổ hợp: là sự sáp nhập diễn ra giữa hai hay nhiều công ty không có cùng lĩnh vực kinh doanh nhằm mục đích đa dạng hóa hoạt động kinh doanh. Căn cứ vào cấu trúc của doanh nghiệp sáp nhập lại được chia ra thành nhiều loại (Nguyễn Thường Lạng và Nguyễn Quỳnh Thư, 2008): Sáp nhập mở rộng thì trường: là hoạt động sáp nhập diễn ra đối với hai công ty bán cùng loại sản phẩm nhưng ở những thị trường khác nhau về mặt địa lí. Sáp nhập mở rộng sản phẩm: là hoạt động sáp nhập diễn ra giữa hai công ty cung cấp những sản phẩm khác nhau nhưng có liên quan với nhau trên cùng một thị trường.
Sáp nhập cùng ngành (hay còn gọi là sáp nhập ngang): diễn ra đối với hai công ty cùng cạnh tranh trực tiếp và chia sẻ cùng dòng sản phẩm và thị trường. Sáp nhập dọc: diễn ra đối với các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng như giữa một công ty với khách hàng hoặc nhà cung cấp của công ty đó. Sáp nhập tập đoàn: diễn ra khi hai công ty không có không có cùng lĩnh vực kinh doanh nhưng muốn đa dạng hóa hoạt động, kinh doanh đa ngành nghề. Phân loại hợp nhất (mua lại hay thâu tóm) Căn cứ vào hoạt động mua lại có thể chia hoạt động mua lại thành hai hoạt động chính: LBO (leverged buyout)- mua quyền kiểm soát của một công ty trên vốn của chính mình kết hợp với nợ tài trợ từ ngân hàng và MBO (management buyout)- thu mua bằng nghiệp vụ quản lý (Copeland &Weston, 2001) Mua lại dựa trên vay nợ (LBO): xảy ra khi một công ty giành phần lớn quyền kiểm soát công ty mục tiêu thông qua việc đi vay nợ.
Hiểu một cách chung nhất đây là chiến lược trong đó công ty mua lại sẽ đi vay một lượng tiền lớn để trả cho các chi phí 9 mua lại. Thông thường, ngoài tài sản của chính mình thì công ty thực hiện mua lại cũng sử dụng luôn tài sản của công ty mục tiêu để đảm bảo cho khoản vay của mình. Mục tiêu của chiến lược này cho phép công ty có thể tiến hành mua lại mà không cần có lượng vốn lớn trong tay. Mua lại cổ phần để giữ quyền quản lý (MBO): là hình thức mua lại cổ phần của hội đồng quản trị của một công ty để khôi phục quyền quản lý sau khi đã bị một số nhà đầu tư thâu tóm bằng hình thức LBO, với tư cách là mua lại cổ phần theo kiểu vay nợ đầu cơ (LBO), có thể nhiều công ty cùng tham gia mua lại một công ty mục tiêu.
Do đó, sự cạnh tranh trong hoạt này khốc liệt, với tình thế này các cổ công trong công ty mục tiêu được lợi. Trước tình thế bị ép giá hoặc có nguy cơ bị thâu tóm, hội đồng quản trị của công ty mục tiêu cần có biện pháp nhằm giữ quyền sở hữu cũng như quản lý của mình. Thực hiện phương thức “mua lại cổ phần giữ quyền quản lý” cũng có nhiều cách. Một là, họ đi tìm một “hiệp sĩ tốt bụng” (white knight)- một người thân thiện với họ hơn và có thể trả giá cao hơn để bán, sau khi “hiệp sĩ tốt bụng” này đã nắm được cổ phần trong tay, các cổ đông có thể thương lượng với hiệp sĩ để mua lại cổ phần chứng khoán này và vẫn duy trì được quyền sở hữu công ty.
Hai là, họ cũng có thể tái cơ cấu vốn của công ty mình: đi vay tiền (vay ngân hàng hoặc phát hành trái phiếu) để mua lại chứng khoán từ các cổ đông khác, sau đó cho các cổ đông khác ra đi, sau đó rút công ty ra khỏi thị trường chứng khoán. Căn cứ vào thái độ của công ty mục tiêu, có thể phân chia hoạt động Mua lại thành mua lại hợp tác và mua lại không hợp tác (Patrick A. Mua lại hợp tác (Friendly acquisition): là hoạt động mua lại doanh nghiệp khi được ban điều hành, quản trị của công ty mục tiêu hoan nghênh. Việc mua lại (thâu tóm) có thể bắt nguồn từ lợi ích chung của cả hai bên.
Mua lại bất hợp tác (Hostile acquisition): là hoạt động mua lại doanh nghiệp mà không có sự ủng hộ của ban điều hành, quản trị của công ty mục tiêu. Việc thâu tóm có thể ảnh hưởng xấu đến hoạt động của công ty mục tiêu và đôi khi gây tổn hại đến cả bên thâu tóm. Hoạt động này diễn ra khi công ty thâu tóm thực hiện mua lại cổ phiếu công ty mục tiêu thông qua phương thức lôi kéo cổ đông bất mãn, mua gôm cổ phiếu trên thị trường chứng khoán và các phương pháp mà không có sự đồng thuận của ban điều hành công ty mục tiêu.