CHƯƠNG I. MỘT SỐ VAN DE LÝ LUẬN VE BAO DAM BÌNH BANG GIGI TRONG CHÍNH SÁCH PHAP LUẬT 1. Khái niệm chính sách pháp luật Đổ hiểu về chính sách pháp luật cẩn hiểu trước hết về thuật ngữ chính sách, một từ khoá được tim thay phổ biển trong khoa học chính sách Chính sách — một thuật ngữ da chiên va da điên, đôi lúc được dùng thay thể bai thuật ngữ chính sách công do cả hai đền để cập dén những chiến lược, định hướng, giải pháp mang tinh nha nước (chính tr)”. Khai niệm chính sách được sử dung tất rồng rãi trong đời sống xế hội, đặc biệt lả được sử dung rat nhiễu trong các van dé liền quan đến lĩnh vực chính tì và nhà nước pháp quyển.
Theo Từ điển Tiếng Việt chính sách được hiểu là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt được một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính tri chung va tinh hình thực tế mã để ra chính sách”, Theo tác gid Vũ Cao Đảm thi chiah sách là một tập hop biện pháp được. thể chế hóa ma một chủ thể có quyền lực, hoặc chủ thể quan lý đưa ra, trong đó tạo ra sự uu đãi một hoặc một số nhóm zã hội, kích thích vào đông cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu tu tiên néo đó trong chiến lược phát triển của một hé thông xã hôi (Hệ thống sã hội theo chính tác gid đó có thé ka một quốc gia, một khu vực hành chính, mốt doanh nghiệp, một nha trường) Một quan điểm khác cho rằng chính sách la một đường lối hành động được “Một số quan niệm về chính sách công Chính sách công là những gì chính phi lựa chọn. Jam hoặc Không lam (Dye, 1992), Chính sách công là thoả thuận chính tị về những hank đồng hoặc không hành động, được thiết kế nhm giã quyết, hoặc làm giảm nhe van đề “ong nghị trình chính tị (Fischer 1995) Chính sách công liên quan đến những gì chính hũ làm, ai sao, và với kết quả gi (Fenna 2004). >Hoàng Phả, Tử didn Ting Việt Nhà wut bin Da Nẵng và Trang tân Từ đến học én ảnh năm1997, 157 thông qua va theo đuổi bởi chính quyền, đảng, nha cảm quyền, chính kháchể.
Hay theo quan điểm của David Easton “chính sách bao gồm chuỗi các quyết định va hảnh động ma trong đó phân phổi thực hiện các gia tr”. Học gia Smith lại lập luận "khái niệm chính sách bao ham sử lựa chọn có chủ đính, hành đông hoặc không hành đông, thay vi những tác động của các lực lượng có quan hệ với nhau". Cũng có ý kiến khác nhận định, chính sách là chuối những hoạt động mã chỉnh quyển chon lâm hay không lam với tính toán va chit đích rõ rang có tác động đến người dan.’ Du hiểu ở góc độ nào đi nữa thì chính sách vẫn cân được nhìn nhân & những nôi dung: i) chính sách do chủ thể có thẩm quyền đưa ra, ii) chính sách được ban hảnh căn cứ vào đường lối chung và tinh hình thực té để các chủ thé có thẩm quyên đưa ra, iii) chính sách. được ban hành bao giở cũng hướng đến một mục đích nhất định, để thực hiện một mục tiêu nào đó, chính sách được ban hành ra đều phải được tính toán, cân.
đối với những chi đích rổ rằng của chủ thể đưa ra chính sách Chính sách có thể do nhiêu chủ thể có thẩm quyển đưa ra nhưng khi để cập tới chính sách pháp luật thi đó là chính sách của Nhà nước, của lực lượng cảm quyển vả thuộc một trong những chính sách công Loại chính sich này được thể hiện trên các phương diện: i) phương hướng hoạt động được lập luận về mặt khoa học, hợp lý và có hệ thông, ii) chủ thể tao ra chính sách này la các cơ quan nhà nước, ii) các biện pháp của chính sách để giải quyết van dé thực tiễn, iv) mục đích của chính sáchễ. Giữa chính sách công và chính sách pháp luật có nhiều điểm tương đồng. nhưng thuật ngữ chính sách công được sử dụng phổ biển hơn. Mặc dù vé mặt “Tir điền Oxford English Dictionary + David Easton, An Approach to the Analysis of Political Systems, NXB Cambridge Univerity ress, Tr658 “Paul Mueller, Adam Smith on Public Policy Four maxims of Taxation, bertananism org “L3 Vinh Danh Chỉnh sich cing ca Hoa Fini đoạn 1935-2001, T.230 6hah Vinh, Chinh sách phap luật những vin Iluận, Hồi thảo khos hoc: MBt số vấn để Iyluin co bên và thục ten cáp báchvẻ chính sách phap lft thang 11 nấm 2013 3 nội ham, hai thuật ngữ này không có nhiều su khác biệt bối déu để cập đến các quyết định chính trị để thực hiện các chương trình nhằm đạt được những, mục tiêu xế hội (Charle L.
Cochran and Eloise F. Nhưng nói đến chính sách pháp luật là nói đến các quyết định chính trị được minh định trong các văn bản quy pham pháp luật, còn chính sách công bao gồm các quyết định chính trị trong các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản khác của nba nước ban hành. Như vay, chỉnh sách công có phạm vi rộng hơn chính sách pháp luật vì chính sách công là những chính sách được ban hảnh ra để thực thí một lẫn hoặc nhiễu lên nhưng chính sách pháp luật chỉ là những những sách được áp dụng nhiễu lẫn với nhiều chủ thể có liên quan cho đến "hi chính sách đó hết hiệu lực. Nine vậy, chính sách pháp luật là giải pháp giải quyết vẫn đề nảy sinh trong đời sống xã hôi nhằm đạt được những muc tiêu nhất định, được thể hiện trong các văn bản gup phạm pháp luật.
Vẻ nội dung, chính sách pháp luật thường chứa đưng gidi pháp chính sách, van để chính sich và mục tiêu chính sách. Giải pháp chính sách la cách (lua chon) giải quyết vẫn để nay sinh trong 2 hồi cẩn phải được can thiệp. Đương nhiên, một van để thực tiễn cẩn có lựa chọn giải quyết từ phía nha nước néu phạm vi ảnh hưỡng cũng như mức độ anh hường của vấn để đó đủ lớn lên 2 hội. Hay vẫn tực tiễn Ay phải cần đến nha nước can thiệp nhằm.
ngăn ngừa những chỉ phí cho xã hội và để bao về các lợi ích thiết yêu, hợp pháp của người dân. Một chính sich pháp luật có nội dung day đủ thì nó phải chứa đựng mục tiêu chính sách, đó là những mong muôn đạt được của nhà nước khi thực hiện giải pháp chính sách cho vẫn để thực tiễn. Các mục tiêu phải đủ rõ rang, cụ thé, khả thi, có xác định về thời gian. 'Vẻ hình thức, chỉnh sách pháp luật được thể hiện trong các diéu luật cia văn bản quy phạm pháp luật.
Tuy theo tinh chất cia mỗi chỉnh sich pháp luật mà chúng nằm trong ít hay nhiễu điều luật va cỏ chính sách pháp luật được thể hiện trong một văn bin quy phạm pháp lut (chính sách cảm phân biệt đối 4 xử trong lao đông) nhưng cũng tổn tại chính sách pháp luất thể hiện ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật (chính sách bảo về trẻ em, chính sich x08 đói giảm nghèo. Binh đẳng giới và bảo đảm bình đẳng giới trong chính sáchpháp luật 2. Khái niệm bình đẳng giới Binh đẳng giới lä một phạm trủ được tiếp cân trên nên của van để giới - chỉ đặc điểm, vi trí, vai trò của nam va nữ trong tắt cả các mỗi quan hệ 28 hôi (NGi cách khác, giới dé cập đên các quan niệm, thái độ, hành vi, mỗi quan hệ và tương quan vé địa vị sã hội của phụ nữ và nam giới trong một bồi cônh zã hội cụ thể, do học hỏi ma có, có thể thay đổi theo thời gian vả có rất nhiều khác biệt giữa các nên văn hóa vả khu vực dia lý)” Trong đó xác định rằng “tình đẳng giới có nghĩa là những ứng zữ, những khát vụng và những nhủ cầu khác nhau của phụ nữ va nam giới đêu được cân nhắc, đánh gia va ủng hộ như nhau”. Bình đẳng giới không có nghĩa phụ nữ và nam giới phải trở thánh.
như nhau, nhưng các quyển, trách nhiệm và các cơ hội của ho sé không phụ. thuộc vào họ sinh ra là nam giới hay phụ nữ. Bình đẳng giới bao ham (i) Bình. nữ và thiết lập, cũng cổ quan hé hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong moi lĩnh ‘vile đi đồi sống sã hoi và gia inh, Vei những nội đụng để, bình đẳng gist trở thành quan trong trong đời sống con người, nếu không duy tri bình đẳng giới, xã hội sẽ rơi vào trang thái còn lại lé phân biệt đối xử vé giới, theo Công tước của Liên hợp quốc về Xoa bỏ moi hình thức phân biệt chống lại phụ nữ (CEDAW) giải thích "là bat ky sw phân biết, loại trừ hay hạn chế nao được để za dua trên cơ sở giới tinh, má có tác dung hoặc nhằm mục đích làm tổn hại *UNEPA-MOLISA, Ta iu tập huấn Thục hiện Luật Binh ding gii, 2009, rÿ 15 hoặc vô hiệu hoá việc phụ nữ, bat kể tỉnh trang hôn nhân của họ như thé nao, được công nhân, hưởng thụ, hay thực hiện quyển con người và tự do cơ bản trên các lĩnh vực chỉnh tị, kinh tế, zã hội, văn hoá, dân sư hay bat kể lính vực nao khác, trên cơ sở binh đẳng giữa nam giới vả phụ nữ" (Điều 1).
Phân biệt đổi xử về giới vừa là nguyên nhân của tinh trang đối nghèo, vừa là rao cân chính đối với phát triển bên vững, và kết qua gây tác đông tiên cực tới moi thánh viên sã hội. Đối với những vùng/quốc gia có mức độ bình ding giới cảng cao thi thảnh qua tăng trường kinh tế cảng phục vụ tốt công tác xoá đói giãm nghèo Theo Liên hợp quốc, bình đẳng giới có nghĩa lé phụ nữ và dan ông được hưởng những điều kién như nhau để thực hiện đây đủ quyển con người và có cơ hội đóng góp, thụ hưởng những thành quả phát triển của xã hội nói chung, Như vậy, mục tiêu của bình đẳng giới là nhằm duy trì, bảo vệ những vấn dé cắt cối của nhân quyển hay quyền của mỗi cơn người trong xã hội. Quyển con người là những quyển ma mỗi người sở hữu, đòi hỏi được hưởng trọn vẹn khi 1a con người. Vào năm 1993, trong Héi nghỉ thể giới vé Quyển con người, các chính phủ nhất manh một lan nữa trong Tuyên bố Vienna rằng quyển con người là quyền khi sinh ra đã có, trên nguyên tắc n người đều co phẩm giá tất kể giới tính, mau đa, ngôn ngữ, quốc tịch, tuổi tác, tang lớp, tôn giáo, niém tin chính trị, v.