CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN DI ĐỘNG 1. Lịch sử phát triển mạng thông tin di động 1. Giới thiệu chung Trong hơn 25 năm qua, sự phát triển của Internet cũng như các công nghệ không dây đã có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của con người trên toàn thế giới. Hai nhân tố này đã làm thay đổi cách con người liên lạc với nhau, cách làm việc, cách hưởng thụ cuộc sống thông qua các loại hình thông tin mới.
Với sự ra đời của mạng thông tin di động, chúng ta đã chứng kiến sự tăng vọt về nhu cầu dịch vụ không dây và di động: năm 2002 đánh dấu thời điểm lịch sử của mạng viễn thông với số thuê bao di động vượt số thuê bao cố định. Theo ITU, tháng 9 năm 2005, số thuê bao di động trên thế giới đã vượt con số 2 tỷ. Theo thống kê của Hiệp hội các nhà cung cấp di động toàn cầu (GSA) gần đây, con số này đã vượt 3 tỷ. Tuy nhiên, lịch sử của mạng di động ô mạng mới bắt đầu trải qua 3 thế hệ và ở nhiều quốc gia nó vẫn còn đang ở thế hệ thứ 2.1 : Lộ trình phát triển mạng thông tin di động [3] Trong mạng thông tin di động, mỗi thập kỷ chứng kiến một thế hệ mạng mới.
Thế hệ đầu tiên (1G) khởi đầu từ những năm 80. Đó là thế hệ điện thoại di động tương tự. Thế hệ thứ hai (2G) bắt đầu nổi lên từ những năm đầu của thập kỷ 90. 2G là công nghệ di động kỹ thuật số, cung cấp dịch vụ thoại và cả dữ liệu.
Thế hệ thứ z 16 ba (3G) bắt đầu từ năm 2001 ở Nhật, đặc trưng bởi dịch vụ thoại, dữ liệu và đa phương tiện tốc độ cao. Hệ thống trước thế hệ thứ tư (4G), nền móng cho thế hệ 4G bắt đầu được thương mại hóa vào đầu năm 2010.Lộ trình phát triển của các công nghệ mạng di động như Hình 1. Thế hệ thứ nhất (1G) Mạng di động 1G bắt đầu ở Nhật vào năm 1979. Đây là hệ thống truyền tín hiệu tương tự.
Những công nghệ chính thuộc thế hệ thứ nhất này có thể kể đến là hệ thống điện thoại di động tiên tiến (AMPS), hệ thống thông tin truy nhập toàn phần (TACS), TACS của Nhật Bản (JTACS), điện thoại di động Bắc Âu (NMT). Tuy chưa hoàn hảo về mặt công nghệ và kỹ thuật, thế hệ thông tin di động 1G này thực sự là một mốc phát triển quan trọng của ngành viễn thông (khái niệm di động “mobile” đã bắt đầu đi vào phục vụ nhu cầu liên lạc của con người trong đời sống hằng ngày). Những điểm yếu của thế hệ 1G liên quan đến chất lượng truyền tin kém, vấn đề bảo mật và sử dụng kém hiệu quả tài nguyên tần số. Thế hệ thứ 2 (2G) Hệ thống mạng 2G đặc trưng với công nghệ chuyển mạch kỹ thuật số.
Kỹ thuật này cho phép sử dụng tài nguyên băng tần hiệu quả hơn nhiều so với 1G. Hầu hết các thuê bao di động trên thế giới hiện đang dùng công nghệ 2G. Công nghệ 2G sẽ còn tồn tại thêm một thời gian dài nữa trước khi 3G thay thế hoàn toàn nó. Những chuẩn di động 2G chính bao gồm hệ thống thông tin di động toàn cầu (GSM), IS-136 và đa truy nhập theo mã thế hệ 1 (CdmaOne).
GSM Sử dụng kỹ thuật đa truy nhập theo thời gian (TDMA) và ghép hai hướng theo tần số (FDD). GSM đã trở thành công nghệ truyền thông có tốc độ phát triển nhanh nhất từ trước đến nay và là một chuẩn di động được triển khai rộng rãi trên thế giới. IS-136 Được biết đến với tên AMPS số (D-AMPS), sử dụng kỹ thuật đa truy nhập TDMA và ghép hai hướng theo thời gian (TDD), công nghệ này được triển khai nhiều ở Châu Mỹ, đặc biệt là ở Mỹ và Canada. IS-136 được triển khai như một mạng che phủ kỹ thuật số, phủ trên nền hạ tầng mạng AMPS.
IS-136 cho tốc độ dữ z 17 liệu đến 30 Kbps. CdmaOne Chuẩn di động của liên minh viễn thông quốc tế (ITU) IS-95 sử dụng kỹ thuật đa truy nhập theo mã (CDMA). CDMA được chuẩn hoá năm 1993. Ngày nay, có 2 phiên bản IS-95, gọi là IS-95A và IS-95B.
IS-95A dùng FDD với độ rộng kênh 1,25 MHz cho mỗi hướng lên và xuống. Tốc độ dữ liệu tối đa của IS-95A là 14,4 Kbps. IS-95B có thể cung ứng tốc độ dữ liệu lên đến 115 Kbps bằng cách gộp 8 kênh lại với nhau. Với tốc độ này, IS-95B còn được phân loại như là công nghệ 2,5G.
Thế hệ di động thứ 3 (3G) Mạng 3G đặc trưng bởi tốc độ dự liệu cao, dung lượng của hệ thống lớn, tăng hiệu quả sử dụng phổ tần và nhiều cải tiến khác. Có một loạt các chuẩn công nghệ di động 3G, tất cả đều dựa trên CDMA, bao gồm: Hệ thống viễn thông di động toàn cầu (UMTS) dùng cả FDD, TDD, CDMA2000 và CDMA phân theo không gian, thời gian. UMTS được chuẩn hoá bởi đề án hợp tác thế hệ thứ 3 (3GPP). UMTS là công nghệ 3G được lựa chọn bởi hầu hết các nhà cung cấp dịch vụ GSM/GPRS để đi lên 3G.
Tốc độ dữ liệu tối đa là 1920Kbps (gần 2Mbps). Nhưng trong thực tế tốc độ này chỉ tầm 384Kbps. Để cải tiến tốc độ dữ liệu của 3G, hai kỹ thuật HSDPA và HSUPA đã được đề nghị. Khi cả 2 kỹ thuật này được triển khai, người ta gọi chung là HSPA.
HSPA thường được biết đến như là công nghệ 3,5G. CDMA2000 Bước phát triển tiếp theo của 2G CdmaOne, đại diện cho họ công nghệ bao gồm CDMA2000 1xRTT (công nghệ phát vô tuyến), CDMA2000 EV-DO (phát triển - tối ưu hóa dữ liệu) và CDMA2000 EV-DV (phát triển - dữ liệu và thoại). CDMA2000 được chuẩn hoá bởi 3GPP2. Lẽ thường thì CDMA2000 là công nghệ 3G được lựa chọn bởi các nhà cung cấp mạng CdmaOne.
CDMA phân không gian - thời gian (TD-SCDMA) Chuẩn di động được đề nghị bởi hiệp hội các tiêu chuẩn thông tin Trung Quốc z 18 (CCSA) và được ITU duyệt vào năm 1999. Đây là chuẩn 3G của Trung Quốc. TD- SCDMA dùng TDD. TD-SCDMA có thể hoạt động trên một dải tần hẹp 1,6 MHz (cho tốc độ 2 Mbps) hay 5MHz (cho tốc độ 6Mbps).
Ngày phát hành của TD- SCDMA đã bị đẩy lùi nhiều lần. Nhiều thử nghiệm về công nghệ này đã diễn ra từ đầu năm 2004 cũng như trong thế vận hội Olympic gần đây. Công nghệ tiền 4G (pre-4G) Công nghệ tiền 4G có thể kể đến: Phát triển tương lai (LTE), di động băng siêu rộng (UMB) và tiêu chuẩn của Viện kỹ thuật điện và điện tử (IEEE) IEEE 802. Điểm chung cho cả 3 công nghệ này là đều sử dụng đa truy nhập phân chia theo tần số trực giao (OFDMA).
3GPP LTE Hệ thống 3GPP LTE, là bước tiếp theo cần hướng tới của hệ thống mạng không dây 3G dựa trên công nghệ di động GSM/UMTS và là một trong những công nghệ tiềm năng nhất cho truyền thông 4G. Liên minh Viễn thông Quốc tế đã định nghĩa truyền thông di động thế hệ thứ 4 là điện thoại đa phương tiện dựa trên giao thức Internet tiên tiến (IMT Advanced) và chia thành hai hệ thống dùng cho di động tốc độ cao và di động tốc độ thấp. 3GPP LTE là hệ thống dùng cho di động tốc độ cao. Ngoài ra, đây còn là công nghệ hệ thống tích hợp đầu tiên trên thế giới ứng dụng cả chuẩn 3GPP LTE và các chuẩn dịch vụ ứng dụng khác, do đó người sử dụng có thể dễ dàng thực hiện cuộc gọi hoặc truyền dữ liệu giữa các mạng LTE và các mạng GSM/ (GPRS) hoặc UMTS dựa trên WCDMA.
UMB Chuẩn UMB hiện nay được phát triển bởi 3GPP2 và là một trong 3 công nghệ được kỳ vọng hướng tới công nghệ 4G.x Chuẩn này bắt nguồn từ mạng vô tuyến không dây (WiFi), sau đó tiến lên IEE 802.16m và hiện nay đang phát triển lên IEEE 802.20 còn được gọi là truy nhập vô tuyến băng rộng di động (MBWA). Nó có thể hỗ trợ ngay cả khi đang di chuyển với vận tốc lên tới 250 km/h. Công nghệ di động băng rộng tương lai LTE LTE là thế hệ thứ tư tương lai của chuẩn UMTS do 3GPP phát triển. UMTS thế hệ thứ ba dựa trên WCDMA đã được triển khai trên toàn thế giới.
Để đảm bảo tính cạnh tranh cho hệ thống này trong tương lai, tháng 11/2004, 3GPP đã bắt đầu dự án nhằm xác định bước phát triển về lâu dài cho công nghệ di động UMTS với tên gọi phát triển trong tương lai (LTE). 3GPP đặt ra yêu cầu cao cho LTE, bao gồm giảm chi phí cho mỗi bit thông tin, cung cấp dịch vụ tốt hơn, sử dụng linh hoạt các băng tần hiện có và băng tần mới, đơn giản hóa kiến trúc mạng với các giao tiếp mở và giảm đáng kể năng lượng tiêu thụ ở thiết bị đầu cuối. Đặc tả kỹ thuật cho LTE đã được hoàn tất và sản phẩm LTE được ra mắt thị trường trong năm 2006. Mục tiêu và triển vọng công nghệ LTE 1.
Mục tiêu của công nghệ LTE Mục tiêu được đặt ra cho phát triển công nghệ LTE là: * Tốc độ đỉnh tức thời với băng thông 20 MHz: Hướng xuống 100 Mbps, hướng lên 50 Mbps. * Dung lượng dữ liệu truyền tải trung bình của một người dùng trên 1 MHz so với mạng HSDPA Rel.6: Hướng xuống gấp 3 đến 4 lần, hướng lên gấp 2 đến 3 lần. * Hoạt động tối ưu với tốc độ di chuyển của thuê bao là 0 ÷ 15 km/h. Vẫn hoạt động tốt với tốc độ từ 15 ÷ 120 km/h.
Vẫn duy trì được hoạt động khi thuê bao di chuyển với tốc độ từ 120 ÷ 350 km/h (thậm chí 500 km/h tùy băng tần). * Các chỉ tiêu trên phải đảm bảo trong bán kính vùng phủ sóng 5 km, giảm chút ít trong phạm vi đến 30 km. Từ 30 ÷ 100 km thì không hạn chế. * Độ dài băng thông linh hoạt: có thể hoạt động với các dải băng tần 1,25 MHz; 1,6 MHz; 2,5 MHz; 5 MHz; 10 MHz; 15 MHz và 20 MHz cả chiều lên và xuống.
Hỗ trợ cả 2 trường hợp độ dài băng lên và băng xuống bằng nhau hoặc không. Để đạt được mục tiêu này, sẽ có rất nhiều kỹ thuật mới được áp dụng, trong đó nổi bật là kỹ thuật vô tuyến đa truy nhập theo tần số trực giao (OFDMA), kỹ thuật anten nhiều đầu vào - nhiều đầu ra (MIMO). Ngoài ra hệ thống này sẽ chạy hoàn toàn trên nền giao thức Internet (IP) và hỗ trợ cả 2 chế độ FDD và TDD.2 : Kiến trúc mạng LTE [3] 1.