Chương 1 TỔNG QUAN 1. Giới thiệu Trong Cơ khí chế tạo nhiệt luyện đóng một vai trò quan trọng vì không những nâng cao chất lượng sản phẩm như kéo dài thời gian làm việc của chi tiết mà còn là thước đo để đánh giá trình độ phát triển khoa học, kĩ thuật của mỗi quốc gia. Ngày nay trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu và ứng dụng công nghệ nhiệt luyện bằng phương pháp tôi cảm ứng bề mặt cục bộ nhằm nâng cao cơ tính vật liệu chi tiết. Đa phần các ứng dụng tập trung vào tôi cảm ứng bề mặt chi tiết dạng trục và các chi tiết yêu cầu độ mài mòn khi làm việc như bánh răng, cơ cấu cam… Tuy nhiên việc áp dụng tôi cảm ứng cho các chi tiết phức tạp, có biên dạng không đồng đều, đặc biệt là chi tiết dạng càn vẫn chưa phổ biến.
Nhiều quốc gia tiên tiến trên thế giới còn bí mật về công nghệ nhiệt luyện này. Quá trình xử lý nhiệt bề mặt chi tiết đòi hỏi một quy trình chặt chẽ có kiểm soát thời gian, tốc độ trao đổi nhiệt trên vật liệu. Việc xử lý nhiệt trong quá trình tôi cục bộ cho các chi tiết thường được đơn giản hoá thành các cấu hình khối trụ đơn giản với tiết diện là hình tròn, hình chữ nhật, hình vuông. Tuy nhiên trong sản xuất công nghiệp, máy móc thiết bị cơ khí luôn luôn đa dạng về kết cấu, đa dạng về chủng loại, … đòi hỏi chi tiết máy phải đa dạng về cấu hình chi tiết và việc áp dụng tôi cảm ứng cho các chi tiết phức tạp, có biên dạng không đồng đều, đặc biệt là chi tiết dạng càng vẫn chưa phổ biến.
Nghiên cứu ảnh hưởng tốc độ tôi chi tiết dạng càng nói riêng và tôi chi tiết có bề mặt cong phức tạp nói chung ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng bề mặt chi tiết tôi. Để góp phần vào định hướng giảm các chi phí trong quá trình tôi bề mặt phức tạp và đem lại chất lượng sản phẩm tôi tốt nhất cho các chi tiết cơ khí. Kết quả của đề tài sẽ góp phần giúp cho các cơ sở chế tạo cơ khí có được cơ sở lý luận, các thông số công nghệ khả thi áp dụng vào quy trình chế tạo, sản xuất ở đơn vị mình. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học - Nghiên cứu ảnh hưởng của tốc độ tôi đến độ cứng bề mặt chi tiết dạng càng dựa trên quá trình thực nghiệm thay đổi thông số tốc độ tôi và thay đổi về vật liệu dựa trên quá trình mô phỏng trên phần mềm Comsol. - Xác định được mối quan hệ giữa nhiệt độ tôi với độ cứng đạt được trên bề mặt chi tiết trong quá tôi bề mặt. Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu đạt được có thể ứng dụng vào việc tôi các chi tiết có bề mặt cong phức tạp. - Mang lại hiệu quả kinh tế và tăng tính cạnh tranh trong lĩnh vực chế tạo các sản phẩm Cơ khí.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1. Mục tiêu tổng quát Thông qua quá trình nghiên cứu đề tài sẽ tập trung vào mục tiêu chung: Nghiên cứu ảnh hưởng của tốc độ tôi đến độ cứng bề mặt chi tiết dạng càng. Mục tiêu cụ thể - Xác lập qui trình phân tích, tính toán quá trình tôi cục bộ cho các chi tiết cơ khí chính xác. - Thiết kế chi tiết “ Cần gạt cho khuôn dập tấm” và mô phỏng quá trình ảnh hưởng của tốc độ tôi đến độ cứng bề mặt chi tiết dạng càng trên phần mềm Comsol.
- Thực nghiệm các thông số tôi cục bộ với sản phẩm “Cần gạt cho khuôn dập tấm”: + Chế tạo sản phẩm mẫu dùng cho thực nghiệm + Thực nghiệm tôi cục bộ với các thông số thay đổi: • Tốc độ di chuyển • Vật liệu + Kiểm tra độ cứng của bề mặt cần tôi 2 Luan van - Tổng kết các kết quả nghiên cứu của đề tài Hình 1. Chi tiết dạng càng “Cần gạt”. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu - Công nghệ tôi cảm ứng từ bề mặt nhằm nâng cao cơ tính vật liệu chi tiết; - Các thông số về tốc độ tôi trong quá trình tôi ảnh hưởng đến chất lượng bề mặt chi tiết tôi.
Phạm vi nghiên cứu Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu các công việc sau đây được thực hiện: - Mô phỏng ảnh hưởng của tốc độ tôi đến độ cứng bề mặt chi tiết dạng càng trên phần mềm Comsol. - Thực nghiệm tôi cục bộ với các thông số thay đổi về tốc độ tôi, vật liệu. Tính cấp thiết của đề tài: Trong quá trình phát triển của ngành cơ khí, các công nghệ về dập, đùn, kéo, đúc chính xác trong khuôn có kích thước hoàn chỉnh, đạt độ bóng theo yêu cầu và công nghệ gia công chi tiết máy có độ chính xác cao đang ngày một phát triển. Hiện nay các vật liệu từ thép dụng cụ hợp kim bền nguội và thép dụng cụ hợp kim bền nóng, điển hình là thép SKD11 (thép làm khuôn dập nguội, tương đương như X12, X12M), thép SKD61 (thép bền nóng, tương đương 40Cr5MoV, H13) có sẵn trên thị trường do các nhà sản xuất của Nhật Bản và CHLB Đức cung cấp).
Theo số liệu thống kê thì nguồn nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất mà cụ thể là thép cho ngành cơ khí phụ thuộc rất nhiều vào thép nhập khẩu từ nước ngoài. Yêu cầu đầu tiên là giảm đến mức tối thiểu hàm lượng thép cơ khí nhập khẩu nước ngoài. Đặc biệt các thép cơ tính cao được sử dụng cho quá trình gia công khuôn nói chung, các chi tiết máy nói riêng chiếm tỷ trọng khá lớn về cả số lượng và giá thành. Do đó để làm giảm nguồn nhập khẩu thép có cơ tính cao bằng cách thay thế vật liệu có cơ tính gần tương đương hoặc sử dụng thép thường gia công rồi tiến hành tôi để tăng độ cứng mà đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật đề ra.
Việc xử lý nhiệt trong quá trình tôi cục bộ cho các chi tiết thường được đơn giản hoá thành các cấu hình khối trụ đơn giản với tiết diện là hình tròn, hình chữ nhật, hình vuông. Tuy nhiên trong sản xuất công nghiệp, máy móc thiết bị cơ khí luôn luôn đa dạng về kết cấu, đa dạng về chủng loại, … đòi hỏi chi tiết máy phải đa dạng về cấu hình chi tiết và việc áp dụng tôi cảm ứng cho các chi tiết phức tạp, có biên dạng không đồng đều, đặc biệt là chi tiết dạng càng vẫn chưa phổ biến. Để góp phần vào định hướng giảm các chi phí về vật liệu và áp dụng công nghệ tôi bề mặt chi tiết có biên dạng phức tạp và đem lại chất lượng sản phẩm tôi tốt nhất cho các chi tiết máy. Đề tài: ”Nghiên cứu ảnh hưởng tốc độ tôi đến độ cứng bề mặt chi tiết dạng càng”.
Kết quả của đề tài sẽ góp phần giúp cho các cơ sở chế tạo cơ khí có được cơ sở lý luận, các thông số công nghệ khả thi áp dụng vào quy trình chế tạo, sản xuất ở đơn vị mình. Các nghiên cứu ngoài nước và trong nước 1. Nghiên cứu ngoài nước Ngày nay trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu và ứng dụng công nghệ tôi cảm ứng từ bề mặt nhằm nâng cao cơ tính vật liệu chi tiết. Đa phần các ứng dụng tập trung vào tôi cảm ứng bề mặt chi tiết trục và các chi tiết yêu cầu độ mài mòn khi làm việc như bánh răng, cơ cấu cam… Tuy nhiên việc áp dụng tôi cảm ứng cho mặt phẳng đặc biệt các bề mặt cong phức tạp vẫn chưa phổ biến.
Có thể kể ra một số công trình tiêu biểu như sau: - “Numerical and experimental analysis of 3D spot induction hardening of AISI 1045 steel” (Mô phỏng và thực nghiệm tôi cảm ứng từ cục bộ bề mặt cho vật liệu thép AISI 1045) [1], bài báo khoa học của các tác giả Kai Gao, Xunpeng Qin, Zhou Wang, Hao Chen, Shengxiao Zhu, Yanxiong Liu, Yanli Song – Khoa công nghệ vật liệu – Đại học Vũ Hán – Trung Quốc, xuất bản năm 2014 bởi Tạp chí khoa học vật liệu. Quá trình gia nhiệt cảm ứng bằng cuộn dây đồng khi tôi sẽ được mô phỏng trên phần mềm ANSYS để xác định thông số nhiệt độ tối ưu. Quá trình tôi cảm ứng được thực hiện ở nhiệt độ 850oC sau đó tiến hành làm nguội với tốc độ 200oC/giây để thu được hoàn toàn Mactenxit như yêu cầu. Dựa trên giản đồ CCT tác giả nhận xét nếu tốc độ làm nguội giảm dần xuống 21oC/giây thì tỷ lệ Peclit sẽ tăng dần từ 0 đến 100% và khi đó quá trình gia tôi thép không đạt.
Giá trị độ cứng đạt được sau khi tôi lớn nhất lên đến 690 HV (60 HRC). Bằng cách chia lưới và xác định thành phần kim tương mặt cắt ngang chi tiết, kết quả cho thấy độ thấm tôi đạt được là 1,6 mm dựa trên hình ảnh hiển thị thành phần phần trăm của Mactenxit và Peclit tại các vị trí được chia lưới. 5 Luan van Hình 1. Mô hình và kết quả mô phỏng quá trình gia nhiệt trên Ansys - “Development of induction surface hardening process for small diameter carbon steel specimens” (Nghiên cứu phương pháp tôi cảm ứng từ cục bộ bề mặt cho các chi tiết trụ nhỏ vật liệu thép) [2], bài báo khoa học của các tác giả Daisuke Suzuki, Koji Yatsushiro, Seiji Shimizu, Yoshio Sugita, Motoki Saito, Katsuhiko Kubota – Trung tâm Công nghiệp Yamanashi – Nhật Bản, xuất bản năm 2009 bởi viện nghiên cứu JCPDS.
Trong công trình nghiên cứu của mình, các tác giả sử dụng dòng điện tần số rất cao lên đến 2MHz nhằm tôi cảm ứng từ bề mặt chi tiết hình trụ có đường kính 6 mm. Kết quả đạt được độ thấm tôi bề mặt là 0,4 mm với độ cứng lên đến 600 HV (56 HRC). Với chi tiết đường kính 3 mm thì độ thấm tôi bề mặt đạt được là 0,09 mm và độ cứng đạt 600 HV (56 HRC). Việc sử dụng dòng điện với tần số cực cao cho phép tôi cảm ứng được các chi tiết nhỏ so với các phương pháp khác chỉ tôi được thể tích trong trường hợp chi tiết nhỏ.
Các thí nghiệm được thực hiện với các điều kiện tốc độ di chuyển chi tiết so với cuộn dây cảm ứng trong quá trình tôi (Không sử dụng các chương trình mô phỏng nhiệt). Kết quả cho thấy tốc độ di chuyển phôi càng nhanh thì độ thấm tôi và độ cứng càng giảm.