CHƯƠNG 1 CẢM BIẾN SINH HỌC Trong thời đại của sự tiến bộ công nghệ và y học, việc sử dụng cảm biến sinh học đã trở thành một phần không thể thiếu trong nghiên cứu và ứng dụng trong lĩnh vực y học. Với khả năng phát hiện chính xác, linh hoạt và không xâm lấn, các cảm biến này đã mở ra một loạt các ứng dụng mới, từ việc chẩn đoán đến điều trị. Mục tiêu của chương này là cung cấp thông tin tổng quan về cảm biến sinh học, các kỹ thuật phát hiện protein sử dụng cảm biến sinh học, đồng thời tập trung vào các nghiên cứu trong lĩnh vực này cả ở trong nước và quốc tế.1 Tổng quan về cảm biến sinh học Cảm biến sinh học được định nghĩa là một thiết bị phát hiện và phân tích các kích thích sinh học bắt nguồn từ những thay đổi của môi trường và chuyển những thay đổi này thành các dạng tín hiệu khác như quang, điện, hóa, v. cho phép đo và định lượng trong thời gian thực [7].
Về mặt kỹ thuật, cảm biến sinh học là một thiết bị tích hợp nhỏ gọn có đầu dò sinh học, được kết nối với hệ thống chuyển đổi để phát hiện tín hiệu. Đầu dò sinh học được tạo ra bằng cách cố định yếu tố nhận biết sinh học (enzym, kháng thể, oligonucleotide, protein thụ thể, vi sinh vật hoặc toàn bộ tế bào) trên bề mặt cảm biến sinh học (hình 1. Đầu dò sinh học phải có tính chọn lọc sinh học và có độ nhạy cao để thu được chất phân tích thích hợp (enzym, kháng nguyên, DNA/RNA, độc tố, vi rút, kim loại nặng, thuốc trừ sâu, v.) và mô tả chính xác sự kiện nhận biết sinh học. Các đặc điểm khác nhau của đầu dò sinh học cho phép phát hiện các mầm bệnh hoặc hóa chất cụ thể trong môi trường, ngay cả ở nồng độ thấp [8], cảm biến sinh học tích hợp tính chọn lọc của các phân tử sinh học và khả năng xử lý của vi điện tử và quang điện tử hiện đại [9].1: Nguyên lý hoạt động của cảm biến sinh học và các thành phần chính: chất phân tích được phát hiện bởi đầu dò sinh học, cố định trên đầu dò.
Phản ứng sinh học được chuyển đổi thành tín hiệu điện, quang hoặc điện hóa bằng đầu dò, sau đó được xử lý [1] Với đặc tính đơn giản, có thể sử dụng nhiều lần và mang tính di động cao đối với các mẫu phức tạp là những ưu điểm cảm biến sinh học. Do đó, công nghệ cảm biến sinh học có thể cung cấp nhiều khả năng ứng dụng khác nhau trong các lĩnh vực công nghiệp khác nhau như y tế, sức khỏe, môi trường và thực phẩm [10]. Dựa trên phương pháp phát hiện và hệ thống đầu dò, cảm biến sinh học có thể được phân loại tương ứng thành điện hóa, vật lý hoặc quang học như hình 1. Cảm biến sinh học điện hóa được định nghĩa là các thiết bị tích hợp cung cấp thông tin phân tích định lượng hoặc bán định lượng cụ thể bằng cách sử dụng yếu tố nhận dạng sinh học, tiếp xúc với nguyên tố truyền dẫn điện hóa.
Cảm biến sinh học điện hóa thường dựa trên các phép đo như điện thế quét vòng hay cường độ dòng điện (amperometric), v. Cảm biến sinh học amperometric là thiết bị được thương mại hóa thành công nhất trong số nhiều loại cảm biến sinh học [11]. Cảm biến sinh học vật lý bao gồm các loại cảm biến sinh học áp điện và nhiệt kế. Cảm biến sinh học áp điện dựa trên điện thế xen kẽ và tạo ra sóng đứng trong tinh thể ở tần số đặc trưng.
Tần số này rất nhạy cảm với các tính chất bề mặt của tinh thể. Nếu một tinh thể được phủ một yếu tố nhận dạng sinh học, liên kết của chất phân tích mục tiêu với thụ thể sẽ tạo ra sự thay đổi tần số cộng hưởng. Cảm biến sinh học nhiệt kế được xây dựng bằng cách kết hợp các enzyme với cảm biến nhiệt độ. Khi chất phân tích tiếp xúc với enzyme, nhiệt của phản ứng enzyme 7 Hình 1.2: Phân loại cảm biến dựa trên đầu dò sinh học [1] được đo và hiệu chuẩn so với nồng độ chất phân tích [12].
Cảm biến sinh học quang học phát hiện những thay đổi về độ hấp thụ, phát quang hoặc huỳnh quang của một chỉ số thích hợp và thay đổi chỉ số khúc xạ [13]. Ý tưởng cơ bản của cảm biến sinh học quang học là tạo ra tín hiệu điện tử, tỷ lệ thuận về cường độ hoặc tần số với nồng độ của một chất phân tích hoặc nhóm chất phân tích cụ thể, mà yếu tố cảm biến sinh học liên kết [14]. Ngày nay, nhờ những tiến bộ về khoa học công nghệ, định nghĩa về cảm biến sinh học đã phát triển từ khái niệm cổ điển về điện cực enzyme sang nhiều phương pháp phân tích dựa trên xúc tác sinh học và ái lực sinh học [15]. Việc cải tiến các thành phần sinh học, thực hiện các công nghệ micro và nano để phát triển các phương pháp tích hợp mới giữa các thụ thể sinh học và đầu dò hứa hẹn tiến bộ nhanh chóng trong công nghệ cảm biến sinh học [16].
Do đó, nghiên cứu cảm biến sinh học đã trở thành một lĩnh vực liên ngành tích hợp những thành tựu đột phá trong vật lý, sinh học, hóa học, khoa học vật liệu, kỹ thuật, toán học và công nghệ thông tin. Trong vài thập kỷ qua, các cảm biến sinh học có nhiều kích cỡ và hình dạng khác nhau đã được sử dụng trong nhiều ứng ứng dụng, chẳng hạn như giám sát môi trường và công nghiệp, y học, công nghệ sinh học, phân tích thực phẩm và giám sát sản xuất, chăm sóc sức khỏe, nông nghiệp, cũng như an ninh và quốc phòng [17].2 Cảm biến sinh học điện hóa Điện hóa học là một nhánh của hóa học liên quan đến sự phân tách điện tích, thường là trong môi trường chất lỏng, sự phân tách điện tích thường liên quan đến sự truyền điện tích, có thể xảy ra đồng nhất trong dung dịch giữa các loại hóa chất khác nhau hoặc không đồng nhất trên bề mặt điện cực [18,19]. Mỗi chất phân tích bị oxy hóa hoặc khử ở một điện thế cụ thể và dòng điện đo được tỷ lệ thuận với nồng độ. Kỹ thuật này là một phương pháp hướng tới phân tích sinh học [20].
Cảm biến sinh học điện hóa sử dụng các phương pháp điện hóa để phát hiện và đo lường sự tương tác giữa kháng thể và kháng nguyên. Việc sử dụng điện hóa trong cảm biến miễn dịch để phát hiện chất phân tích có một số ưu điểm vì kỹ thuật này tiết kiệm, dễ vận hành, di động và đơn giản để xây dựng. Vì điện hóa học là một phương pháp dựa trên bề mặt, lượng phản ứng không quan trọng khi các mẫu chỉ được yêu cầu cho mục đích phát hiện [21]. Các phương pháp điện hóa thường được áp dụng bao gồm: • Phản ứng oxi hóa khử: trong đó kháng thể được gắn trên điện cực và kháng nguyên được thêm vào mẫu.
Nếu kháng nguyên tương ứng với kháng thể, sẽ xảy ra phản ứng oxi hóa khử tạo ra dòng điện. • Phương pháp truyền dẫn điện: trong đó kháng thể được gắn trên điện cực và kháng nguyên được thêm vào mẫu. Nếu kháng nguyên tương ứng với kháng thể trên điện cực, sẽ xảy ra thay đổi trạng thái truyền dẫn điện của điện cực. • Phương pháp điện dung: trong đó kháng thể được gắn trên điện cực và kháng nguyên được thêm vào mẫu.
Nếu kháng nguyên tương ứng với kháng thể trên điện cực, sẽ xảy ra thay đổi điện dung của điện cực [22, 23]. Các kỹ thuật điện hóa bao gồm rất nhiều loại từ đơn giản như điện thế quét vòng (Cyclic Voltammetry - CV) hay chronopotentiometry, đến các kỹ thuật phức tạp như phổ trở kháng (EIS). Với mỗi đặc tính điện hóa của bề mặt điện cực thì có thể thực hiện được nhiều kỹ thuật khác nhau, tuy nhiên thường thì chỉ có một kỹ thuật cho kết quả tốt nhất [24]. Về nguyên tắc, các phép đo điện hóa chỉ cần hai điện cực việc thiết lập hai điện cực được sử dụng trong một vài trường hợp là những phép đo có mức điện áp đặt lên ổn định ví dụ như pin, siêu tụ điện, v.
Tuy nhiên, trong thực tế, rất khó để giữ một điện thế ổn định không đổi trong khi đo điện trở giữa điện cực làm việc và dung dịch. Vì vậy thí nghiệm với ba điện cực 9 được thiết lập giúp cho kết quả của phép đo được chính xác hơn [2]. Ba điện cực được sử dụng đó là: • Điện cực làm việc (WE): là điện cực chỉ thị, là nơi mà phản ứng xảy ra, vật liệu chế tạo điện cực làm việc được lựa chọn để mang lại đặc tính chuyển điện tử tốt về phía chất nền, đồng thời thể hiện năng lượng hoạt hóa cao để chuyển điện tử trong phản ứng. • Điện cực đếm (CE): là điện cực cấp nguồn.
Tất cả các thí nghiệm điện hóa (với dòng điện khác không) đều phải có cặp điện cực working – counter. Trong hầu hết các thí nghiệm, CE là dòng cấp nguồn do đó các vật liệu tương đối trơ như than chì hoặc bạch kim được sử dụng. Điện cực đếm phải có diện tích bề mặt lớn để cho phép dòng điện chạy qua cao ngay cả khi điện thế thấp. Bằng cách này, tránh được sự phân tách nước, tạo khí hoặc tạo ra các gốc tự do trong quá trình điện hóa.
• Điện cực tham chiếu (RE): Điện cực tham chiếu phải cung cấp điện thế không đổi trong suốt quá trình thí nghiệm do dòng điện chạy qua điện cực dẫn đến phản ứng điện hóa sẽ làm thay đổi thành phần môi trường của điện cực làm thay đổi điện thế. Một số điện cực được sử dụng rất phổ biến và có sẵn trên thị trường như Ag/AgCl, Hg/HgO, Cu/CuSO4, v.3 Các kỹ thuật đo điện hóa 1.1 Amperometric Mối quan tâm đến cảm biến sinh học cường độ dòng điện bắt đầu khi người ta nhận thấy rằng các quy trình điện thế có khả năng phát hiện những thay đổi về tính chất điện môi của bề mặt điện cực [26]. Đo cường độ dòng điện hoặc mật độ dòng điện ở một giá trị điện thế không đổi trong một khoảng thời gian xác định trong tế bào điện hóa. Khi một điện thế cố định được đặt vào giữa điện cực làm việc và điện cực tham chiếu, quá trình oxy hóa và khử sẽ diễn ra dẫn đến dòng điện đầu ra có thể đo được, tỷ lệ thuận với nồng độ của chất phân tích quan tâm [27].