Luận án nghiên cứu ứng dụng lý thuyết điều khiển thích nghi để nâng cao chất lượng hệ thống lái tự động tàu nổi có choán nước

Luận án nghiên cứu ứng dụng lý thuyết điều khiển thích nghi nhằm nâng cao chất lượng hệ thống lái tự động cho tàu nổi có choán nước.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2023

110
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU KHIỂN CHO HỆ LÁI TÀU THỦY

1.1. Mô hình động lực học của phương tiện hàng hải

1.2. Các khung tọa độ quy chiếu

2. CHƯƠNG 2: ĐIỀU KHIỂN THÍCH NGHI TRƯỢT BACKSTEPPING CHO MÔ HÌNH LÁI TÀU 3D BẰNG MẠNG NƠ- RON NHÂN TẠO

3. CHƯƠNG 3: ĐIỀU KHIỂN THÍCH NGHI MẶT ĐỘNG TRÊN CƠ SỞ MẠNG NƠ- RON NHÂN TẠO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về hệ thống lái tự động tàu nổi

Hệ thống lái tự động tàu nổi đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng hệ thống điều khiển tàu thủy. Việc áp dụng lý thuyết điều khiển thích nghi giúp cải thiện khả năng điều khiển trong môi trường phức tạp. Hệ thống này không chỉ giúp giảm thiểu sai số trong quá trình điều khiển mà còn tối ưu hóa hiệu suất hoạt động của tàu. Theo nghiên cứu, công nghệ tự động hóa trong lĩnh vực hàng hải đã có những bước tiến đáng kể, đặc biệt là trong việc phát triển các bộ điều khiển thông minh. Hệ thống lái tự động hiện đại không chỉ dựa vào các phương pháp điều khiển truyền thống mà còn kết hợp với các công nghệ mới như mạng nơ-ron nhân tạo để xử lý các yếu tố bất định trong mô hình động lực học của tàu.

1.1. Tầm quan trọng của hệ thống lái tự động

Hệ thống lái tự động tàu nổi không chỉ giúp nâng cao chất lượng hệ thống mà còn đảm bảo an toàn cho các hoạt động hàng hải. Việc sử dụng điều khiển thích nghi cho phép hệ thống tự động điều chỉnh theo các điều kiện môi trường thay đổi, như sóng, gió và dòng chảy. Điều này giúp giảm thiểu rủi ro và tăng cường khả năng hoạt động của tàu trong các tình huống khó khăn. Hệ thống lái tự động cũng giúp tiết kiệm thời gian và chi phí cho các hoạt động hàng hải, đồng thời nâng cao hiệu quả vận hành. Như vậy, việc nghiên cứu và phát triển hệ thống lái tự động là cần thiết để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong ngành hàng hải.

II. Các phương pháp điều khiển hiện đại

Trong nghiên cứu này, các phương pháp điều khiển hiện đại được phân tích và đánh giá. Điều khiển thích nghi là một trong những phương pháp nổi bật, cho phép hệ thống tự động điều chỉnh theo các thay đổi trong môi trường và mô hình động lực học của tàu. Các phương pháp như điều khiển trượtkỹ thuật backstepping cũng được áp dụng để cải thiện khả năng điều khiển. Việc sử dụng mạng nơ-ron nhân tạo để xấp xỉ các thành phần động học bất định của hệ thống lái là một bước tiến quan trọng. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc kết hợp các phương pháp này có thể tạo ra những bộ điều khiển hiệu quả hơn, giúp nâng cao hiệu suất của hệ thống lái tự động.

2.1. Phân tích ưu nhược điểm của các phương pháp

Mỗi phương pháp điều khiển đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Điều khiển PID là phương pháp truyền thống, dễ áp dụng nhưng không hiệu quả trong các tình huống có nhiễu lớn. Ngược lại, điều khiển thích nghi có khả năng điều chỉnh theo các thay đổi trong môi trường, nhưng yêu cầu mô hình hóa chính xác hơn. Việc áp dụng mạng nơ-ron giúp cải thiện khả năng xử lý các yếu tố bất định, tuy nhiên, cũng cần phải cân nhắc đến độ phức tạp trong việc thiết kế và triển khai. Do đó, việc lựa chọn phương pháp điều khiển phù hợp cần dựa trên các yếu tố cụ thể của từng hệ thống và môi trường hoạt động.

III. Ứng dụng lý thuyết điều khiển thích nghi

Lý thuyết điều khiển thích nghi đã được áp dụng thành công trong việc phát triển các bộ điều khiển cho hệ thống lái tàu nổi. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng lý thuyết này giúp cải thiện đáng kể chất lượng hệ thống lái, đặc biệt trong các điều kiện môi trường không ổn định. Hệ thống lái tự động có khả năng tự điều chỉnh theo các yếu tố như gió, sóng và dòng chảy, từ đó nâng cao hiệu suất hoạt động của tàu. Việc áp dụng các thuật toán điều khiển thích nghi không chỉ giúp giảm thiểu sai số trong quá trình điều khiển mà còn tối ưu hóa các thông số hoạt động của tàu.

3.1. Kết quả thực nghiệm và mô phỏng

Các kết quả mô phỏng cho thấy rằng hệ thống lái tự động sử dụng điều khiển thích nghi có khả năng bám quỹ đạo tốt hơn so với các phương pháp truyền thống. Các thử nghiệm thực tế cũng đã chứng minh rằng việc áp dụng lý thuyết này giúp cải thiện đáng kể khả năng điều khiển trong các điều kiện môi trường phức tạp. Hệ thống lái tự động không chỉ đáp ứng tốt các yêu cầu về hiệu suất mà còn đảm bảo an toàn cho các hoạt động hàng hải. Những kết quả này khẳng định giá trị và tính ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu trong việc nâng cao hiệu suất của hệ thống lái tàu nổi.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU KHIỂN CHO HỆ LÁI TÀU THỦY 1. Mô hình động lực học của phương tiện hàng hải Mô hình động lực học của phương tiện hàng hải được xây dựng dựa trên lý thuyết cơ học, những nguyên lý của động học và tĩnh học. Mô hình động lực học của phương tiện hàng hải được sử dụng để thiết kế các hệ thống điều khiển cho phương tiện này đáp ứng những mục tiêu cụ thể. Trong chương này, tóm tắt cách biểu diễn mô hình động lực học của phương tiện hàng hải dựa trên những kết quả trong [19, 22].

Các tính chất vật lý đặc trưng và các yêu cầu về điều khiển hệ thống lái tàu cũng được phân tích kỹ lưỡng để phục vụ cho phần tổng hợp bộ điều khiển và khảo sát tính ổn định cho hệ thống kín. Các ký hiệu được sử dụng như chiều chuyển động, lực và momen tác động, tốc độ và vị trí cho các phương tiện hàng hải [19] được biểu diễn trong Bảng 1-1 và Hình 1-1 tuân thủ theo hiệp hội SNAME. Đối với chuyển động của phương tiện hàng hải, 6 tọa độ độc lập là đủ để xác định vị trí và hướng của phương tiện. Sáu biến chuyển động khác nhau của phương tiện hàng hải gồm chuyển động tiến (surge), chuyển động dạt (sway), chuyển động lên xuống (heave), chuyển động quay lắc (roll), chuyển động quay lật (pitch) và chuyển động quay hướng (yaw) được định nghĩa như trong Hình 1-1 và Bảng 1-1.

Các biến chuyển động của phương tiện hàng hải ( nguồn [19] ) 5 Bảng 1-1. Các ký hiệu của SNAME Bậc tự Lực và Tốc độ dài Vị trí và do mô-men và tốc độ góc Euler góc 1 Chuyển động tiến theo trục 𝑥 𝑋 𝑢 𝑥 2 Chuyển động tiến theo trục 𝑦 𝑌 𝑣 𝑦 3 Chuyển động tiến theo trục 𝑧 𝑍  𝑧 4 Chuyển động quay quanh trục 𝑥 𝐾 𝑝  5 Chuyển động quay quanh trục 𝑦 𝑀 𝑞  6 Chuyển động quay quanh trục 𝑧 𝑁 𝑟 𝜓 Ba tọa độ đầu tiên (𝑥, 𝑦, 𝑧) là vị trí của phương tiện hàng hải và đạo hàm của chúng theo thời gian (𝑢, 𝑣, ) là vận tốc chuyển động tịnh tiến của phương tiện dọc theo trục 𝑥, 𝑦, 𝑧. Ba tọa độ cuối (, , 𝜓) là các góc miêu tả hướng của phương tiện quanh các trục 𝑥, 𝑦, 𝑧 và đạo hàm theo thời gian của chúng (𝑝, 𝑞, 𝑟) là tốc độ quay xung quanh các trục này. Để phân tích chuyển động của phương tiện hàng hải trong 6 bậc tự do, các khung tọa độ sau cần được xét: các khung tọa độ gắn tâm trái đất và các khung tọa độ quy chiếu cần để miêu tả chuyển động của phương tiện hàng hải.

Các khung tọa độ quy chiếu ( nguồn [19]) Khung tọa độ quy chiếu gắn tâm trái đất (Earth-Centered Reference Frames) gồm: ECI (i-frame) là khung tọa độ quán tính để định vị trái đất (ứng với khung quy chiếu không gia tốc trong định luật Newton để ứng dụng xét các chuyển động). Gốc 6 của khung tọa độ ECI 𝑥𝑖 𝑦𝑖 𝑧𝑖 được đặt tại tâm của trái đất với các trục được chỉ ra ở Hình 1-2 ECEF (e- frame) 𝑥𝑒 𝑦𝑒 𝑧𝑒 có gốc gắn với thân trái đất nhưng trục quay so với khung quán tính ECI, với tốc độ quay là ωe = 7. Đối với những phương tiện hàng hải, sự quay của trái đất có thể được bỏ qua và do đó khung e-frame có thể xem như là khung quán tính. Khung tọa độ e –frame được sử dụng cho việc dẫn đường, định vị và điều khiển nói chung.

Ví dụ khi phải miêu tả chuyển động và vị trí con tàu quá cảnh giữa các đại dương. Khung tọa độ quy chiếu địa lý (Geographic Reference Frames) gồm: NED (n-frame) hệ tọa độ North-East-Down 𝑥𝑛 𝑦𝑛 𝑧𝑛. Đó là hệ trục tọa độ chúng ta thường đề cập đến trong cuộc sống hàng ngày. Nó thường được định nghĩa như mặt phẳng tiếp tuyến trên bề mặt của trái đất và chuyển động cùng với phương tiện, trục 𝑥 chỉ theo hướng bắc, trục 𝑦 chỉ theo hướng đông, trục 𝑧 chỉ theo hướng tới bề mặt trái đất.

Vị trí của n-frame so với e-frame được xác định bằng hai góc l (kinh độ) và  (vĩ độ). Đối với những phương tiện hàng hải hoạt động trong vùng cục bộ, kinh độ và vĩ độ gần như không đổi, có thể sử dụng mặt phẳng tiếp tuyến trên bền mặt trái đất để định vị cho phương tiện. Khi đó trái đất được coi như một mặt phẳng định vị và để đơn giản nó được ký hiệu là n-frame. Khi định vị trái đất là mặt phẳng và n-frame là khung tọa độ quán tính thì định luật Newton vẫn được áp dụng.

BODY (b-frame) khung quy chiếu gắn thân 𝑥𝑏 𝑦𝑏 𝑧𝑏 là khung tọa độ được gắn với phương tiện, di chuyển cùng phương tiện. Vị trí và hướng của phương tiện được miêu tả trong khung tọa độ quy chiếu quán tính n-frame (vì khung tọa độ e-frame và n-frame xấp xỉ bằng nhau đối với phương tiện hàng hải), trong khi vận tốc góc và vận tốc dài của phương tiện thường được biểu diễn trong khung tọa độ gắn thân b-frame. Với tàu đại dương nói chung, vị trí thông dụng nhất của khung tọa độ gắn thân là tạo ra sự đối xứng xung quanh mặt phẳng 𝑜𝑏 𝑥𝑏 𝑧𝑏 và sự xấp xỉ đối xứng xung quanh mặt phẳng 𝑜𝑏 𝑦𝑏 𝑧𝑏. Theo nghĩa này, trục gắn thân xb, yb và zb được chọn trùng với trục chính của quán tính và chúng thường được xác định như (Hình 1-1).

xb – longitudinal axis – trục dọc (hướng từ đuôi tới mũi tàu) yb – transverse axis – trục ngang (hướng sang mạn phải của tàu) zb – normal axis – trục thẳng đứng (hướng từ đỉnh tới đáy tàu) Dựa trên những ký hiệu trong Bảng 1-1, chuyển động của phương tiện hàng hải được miêu tả bởi những véc-tơ sau: 𝜼 = [𝜼1𝑇 , 𝜼𝑇2 ]𝑇 ∈ 𝑅 6 ; với 𝜼1 = [𝑥, 𝑦, 𝑧]𝑇 ∈ 𝑅 3 ; 𝜼2 = [, , 𝜓]𝑇 ∈ 𝑅 3  = [1𝑇 , 𝑇2 ]𝑇 ∈ 𝑅 6 ; với 1 = [𝑢, 𝜐, ]𝑇 ∈ 𝑅 3 ; 2 = [𝑝, 𝑞, 𝑟]𝑇 ∈ 𝑅 3 𝝉 = [𝝉1𝑻 , 𝝉𝑻2 ]𝑇 ∈ 𝑅 6 ; với 𝝉1 = [𝑋, 𝑌, 𝑍]𝑇 ∈ 𝑅 3 ; 𝝉2 = [𝐾, 𝑀, 𝑁]𝑇 ∈ 𝑅 3 trong đó 𝜼 ký hiệu véc-tơ vị trí và hướng với khung tọa độ gắn trái đất e-frame,  ký hiệu véc-tơ vận tốc dài và vận tốc góc với hệ tọa gắn thân b-frame, 𝝉 ký hiệu lực và momen tác động lên tàu trong khung tọa độ gắn thân. Nghiên cứu về động lực học của phương tiện hàng hải có thể được chia thành hai phần [19]: − Phân tích về vị trí và hướng của chuyển động (kinematic) − Phân tích về những lực gây ra chuyển động (dynamic). Phân tích về vị trí và hướng chuyển động của tàu Đạo hàm bậc nhất theo thời gian của véc-tơ vị trí 𝜼1 có mối liên hệ với véc-tơ 1 thông qua sự chuyển đổi sau: 𝜼̇ 1 = 𝑱1 (𝜼2 )1 (1.1) trong đó 𝑱1 (𝜼2 ) là một ma trận chuyển đổi, gồm các hàm của các góc , , 𝜓. Ma trận này được biểu diễn như sau: 𝑐𝜓𝑐 −𝑠𝜓𝑐 + 𝑐𝜓𝑠𝑠 𝑠𝜓𝑠 + 𝑐𝜓𝑐𝑠 𝑱1 (𝜼2 ) = [𝑠𝜓𝑐 𝑐𝜓𝑐 + 𝑠𝑠𝑠𝜓 −𝑐𝜓𝑠 + 𝑠𝑠𝜓𝑐] (1.

Mặt khác, đạo hàm bậc nhất theo thời gian của véc-tơ góc 𝜼2 có mối liên hệ với véc- tơ 2 thông qua sự chuyển đổi sau: 𝜼̇ 2 = 𝑱2 (𝜼2 )2 (1.3) trong đó ma trận chuyển đổi 1 sin  tan  cos  tan 𝜃 𝑱2 (𝜼2 ) = [0 cos  − sin  ] (1.4) 0 sin  cos 𝜃 cos  cos 𝜃 ⁄ ⁄ Chú ý rằng ma trận chuyển đổi 𝑱2 (𝜼2 ) không xác định đối với góc quay lật  = 900 và 𝑱2 (𝜼2 ) không thỏa mãn tính chất của ma trận trực giao. Đối với phương tiện trên bề mặt biển không hoạt động ở góc quay lật  = 900, tuy nhiên tàu ngầm và máy bay đều có thể hoạt động tại điểm đặc biệt này, chi tiết được trình bày trong tài liệu [19].3) tạo ra phương trình mô tả vị trí và hướng của phương tiện hàng hải: 𝜼̇ 𝑱 (𝜼 ) 𝐎3x3 1 [ 1] = [ 1 2 ][ ] ⇔ 𝜼̇ = 𝑱(𝜼) (1. Phương trình chuyển động của phương tiện hàng hải (Dynamics) 1. Phương trình chuyển động của vật rắn Để xét chuyển động và các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển động của tàu, trước tiên ta xét chuyển động của tàu như chuyển động của vật rắn với khung quy chiếu gắn thân 𝑥𝑏 𝑦𝑏 𝑧𝑏 , gốc tọa độ O (Hình 1-3).

Ứng dụng công thức Newton-Euler cho vật rắn có khối lượng m, phương trình cân bằng lực và momen tác động lên tàu như sau [24]: 𝑚[̇ 1 + 2 × 1 + ̇ 2 × 𝒓𝑔 + 2 × (2 × 𝒓𝑔 )] = 𝝉1 (1.8) −𝐼𝑧𝑥 −𝐼𝑧𝑦 𝐼𝑧 8 trong đó 𝐼𝑥 , 𝐼𝑦 , và 𝐼𝑧 là những momen quán tính xung quanh trục 𝑥𝑏 , 𝑦𝑏 , 𝑧𝑏 và 𝐼𝑥𝑦 = 𝐼𝑦𝑥 , 𝐼𝑥𝑧 = 𝐼𝑧𝑥 và 𝐼𝑦𝑧 = 𝐼𝑧𝑦 là những tương tác của momen quán tính trục này lên trục khác. Khung tọa độ quy chiếu quán tính gắn trái đất và khung tọa độ gắn thân (nguồn [24] ) Phương trình chuyển động của vật rắn được biểu diễn bằng tập các véc-tơ: 𝑴𝑅𝐵  ̇ + 𝑪𝑅𝐵 () = 𝝉𝑅𝐵 (1.9) trong đó:  = [𝑢, 𝑣, , 𝑝, 𝑞, 𝑟]𝑇 là véc-tơ vận tốc tổng quát được phân tích trong khung b- frame 𝝉𝑅𝐵 = [𝑋, 𝑌, 𝑍, 𝐾, 𝑀, 𝑁]𝑇 là véc-tơ tổng quát của lực và momen ngoài được phân tích trong khung b-frame. 𝑴𝑅𝐵 là ma trận quán tính hệ thống vật rắn 𝑪𝑅𝐵 () là ma trận Coriolis và lực hướng tâm vật rắn Ma trận quán tính hệ thống của vật rắn 𝑚 0 0 0 𝑚𝑧𝑔 −𝑚𝑦𝑔 0 𝑚 0 −𝑚𝑧𝑔 0 𝑚𝑥𝑔 0 0 𝑚 𝑚𝑦𝑔 −𝑚𝑥𝑔 0 𝑴𝑅𝐵 = (1.11) 𝑚(𝑦𝑔 𝑞 + 𝑧𝑔 𝑟) −𝑚(𝑥𝑔 𝑞 − ) −𝑚(𝑥𝑔 𝑟 + 𝑣) −𝑚(𝑦𝑔 𝑝 + ) 𝑚(𝑧𝑔 𝑟 + 𝑥𝑔 𝑝) −𝑚(𝑦𝑔 𝑟 − 𝑢) −𝑚(𝑧𝑔 𝑝 − 𝑣) −𝑚(𝑧𝑔 𝑞 + 𝑢) 𝑚(𝑥𝑔 𝑝 + 𝑦𝑔 𝑞) 0 −𝐼𝑦𝑧 𝑞 − 𝐼𝑥𝑧 𝑝 + 𝐼𝑧 𝑟 𝐼𝑦𝑧 𝑟 + 𝐼𝑥𝑦 𝑝 − 𝐼𝑦 𝑞 𝐼𝑦𝑧 𝑞 + 𝐼𝑥𝑧 𝑝 − 𝐼𝑧 𝑟 0 −𝐼𝑥𝑧 𝑟 − 𝐼𝑥𝑦 𝑞 + 𝐼𝑥 𝑝 −𝐼𝑦𝑧 𝑟 − 𝐼𝑥𝑦 𝑝 + 𝐼𝑦 𝑞 𝐼𝑥𝑧 𝑟 + 𝐼𝑥𝑦 𝑞 − 𝐼𝑥 𝑝 0 ] Véc-tơ tổng quát của lực và momen ngoài 𝝉𝑅𝐵 là tổng của véc-tơ lực và momen thủy động lực học 𝝉𝐻 , véc-tơ lực và momen nhiễu từ môi trường 𝒘, véc-tơ lực và momen đẩy của tàu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án "Luận án nghiên cứu nâng cao chất lượng hệ thống lái tự động tàu nổi qua lý thuyết điều khiển thích nghi" tập trung vào việc cải thiện hiệu suất và độ chính xác của hệ thống lái tự động cho tàu nổi thông qua việc áp dụng lý thuyết điều khiển thích nghi. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phương pháp điều khiển hiện đại mà còn chỉ ra những lợi ích thiết thực trong việc nâng cao an toàn và hiệu quả hoạt động của tàu. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách thức tối ưu hóa hệ thống lái, từ đó có thể áp dụng vào các lĩnh vực liên quan đến kỹ thuật điều khiển và tự động hóa.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan, hãy khám phá thêm về Luận án tiến sĩ: Tối ưu hóa điều khiển hệ thống điện phân phối với năng lượng gió và mặt trời, nơi bạn sẽ tìm thấy những ứng dụng của lý thuyết điều khiển trong các hệ thống năng lượng. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ về thiết kế bộ điều khiển sliding mode cho tàu không người lái USV cũng là một tài liệu hữu ích, giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp điều khiển trong lĩnh vực tàu không người lái. Cuối cùng, Nghiên cứu hệ thống điều khiển và tự động hóa cho máy bay không người lái với thị giác máy tính sẽ mở rộng thêm kiến thức về ứng dụng của công nghệ điều khiển trong các phương tiện tự động.