mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn bao gồm các chƣơng cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về dịch vụ logistics trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng chất lƣợng dịch vụ logistics tại Công ty CP VIMC Logistics trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao chất lƣợng dịch vụ logistics tại Công ty CP VIMC Logistics trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ LOGISTICS TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1. Tổng quan nghiên cứu Trong vài năm trở lại đây, logistics là ngành dịch vụ quan trọng trong cơ cấu tổng thể của nền kinh tế. Hoạt động của chuỗi logistics xuyên suốt mọi khâu trong quá trình sản xuất. Từ giai đoạn sản xuất hàng hóa đến khi hàng đƣợc giao đến ngƣời nhận đều có sự xuất hiện của ngành logistics.
Hiện tại, Việt Nam đƣợc đánh giá là thị trƣờng tiềm năng cho sự phát triển của ngành logistics khi hệ thống cơ sở hạ tầng đƣờng bộ, đƣờng hàng không, đƣờng sắt, đƣờng biển, cùng hệ thống kho bãi, trung tâm thƣơng mại…liên tục đƣợc mở rộng. Kèm theo đó là sự phát triển của dịch vụ đi kèm, thủ tục xuất nhập khẩu cũng đƣợc đơn giản hóa để cải thiện chất lƣợng của dịch vụ. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, chất lƣợng dịch vụ logistics luôn là đề tài thu hút nhiều sự chú ý không chỉ của các nhà kinh tế học, các học giả, các nhà nghiên cứu mà còn đón nhận sự quan tâm của các nhà đầu tƣ, các doanh nghiệp. trên toàn thế giới.
Các nghiên cứu nước ngoài về phát triển ngành Logistics tại Việt Nam Nghiên cứu của viện Nomura: Trong số các nghiên cứu về logistics Việt Nam của các tác giả nƣớc ngoài, nghiên cứu “Vietnam logistics development, trade facilitation and the impact on poverty reduction” của Viện Nghiên cứu Nomura (Nhật Bản) công bố năm 2002 đã chỉ ra các nhà cung cấp dịch vụ logistics ở Việt Nam hiện tại chỉ mới đáp ứng đƣợc 25% nhu cầu cơ bản của thị trƣờng logistics. Nghiên cứu này cũng đƣa ra nhận định giá cả dịch vụ logistics rẻ là một lợi thế của Việt Nam, nhƣng chất lƣợng dịch vụ không đảm bảo, sự kém phát triển của các công ty giao nhận địa phƣơng chính là những khó khăn lớn cho thị trƣờng logistics trong nƣớc. Nghiên cứu của Blancas và cộng sự: Trong nghiên cứu “Efficient Logistics - A Key to Vietnam’s Competitiveness”, Blancas và cộng sự (2014) đã tập trung nghiên cứu và đề xuất 5 nhóm giải pháp với mục tiêu cải thiện, tăng cƣờng, nâng cao độ tin cậy và hiệu suất 5 trong hoạt động vận tải, kho vận và tổng thể chuỗi cung ứng nội địa, quốc tế của Việt Nam. 5 nhóm giải pháp lần lƣợt đƣợc trình bày bao gồm: (1) hiện đại hóa song song với việc đồng bộ hệ thống hải quan; (2) nỗ lực tăng cƣờng tính minh bạch; (3) tăng cƣờng công tác quy hoạch, quản lý và tổ chức thực hiện hành lang vận tải đa phƣơng thức nói chung và vận tải đa phƣơng thức quốc tế nói riêng; (4) chú trọng quan tâm phát triển hệ thống giao thông đƣờng bộ; (5) nghiên cứu và đề xuất các giải pháp, tạo điều kiện hội nhập với các quốc gia và vùng lãnh thổ.
Nghiên cứu của Ruth Banomyong: Trong nghiên cứu “Formulating regional logistics development policy: The case of ASEAN”, R. Banomyong (2008) đã lần lƣợt trình bày hệ thống đánh giá năng lực cạnh tranh ngành Logistics của các quốc gia trong khu vực ASEAN, trong đó có Việt Nam. Theo đó, bộ tiêu chí bao gồm 4 yếu tố: (1) tiềm lực phát triển cơ sở hạ tầng logistics; (2) sự kiện toàn và phát triển của khung thể chế, chính sách, pháp luật liên quan đến công tác quản lý logistics; (3) năng lực của các nhà cung cấp dịch vụ, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics và (4) năng lực của doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics đánh giá dựa trên quy mô doanh nghiệp, tập quán kinh doanh, các hệ thống logistics đƣợc thiết kế, khả năng tiếp cận với các dịch vụ logistics khác,… Nghiên cứu của Sullivan: Sullivan (2006) trong nghiên cứu “Vietnam Transportation and Logistics: Opportunities and Challenges” đã chỉ ra thực trạng, những cơ hội và thách thức mà lĩnh vực vận tải và logistics của Việt Nam đang đối mặt. Trong nghiên cứu này, tác giả lần lƣợt phân tích các cơ hội và thách thức của ngành Vận tải hàng hóa, liên quan đến các hình thức vận tải phổ biến tại Việt Nam nhƣ vận tải đƣờng bộ, vận tải đƣờng sắt, vận tải đƣờng hàng không và vận tải đƣờng thủy.
Trên cơ sở phân tích, tác giả đã đƣa ra nhiều giải pháp kiến nghị đến các cơ quan hữu quan nhằm nắm bắt cơ hội và giải quyết căn cơ những khó khăn, thách thức. Nghiên cứu của Business Monitor International: 6 Tổ chức Business Monitor International (Vƣơng quốc Anh) đã xuất bản các báo cáo liên quan đến Vận tải hàng hóa ở Việt Nam trong 2 năm 2009 và 2011. Những báo cáo này tuy không phân tích chi tiết toàn bộ hệ thống logistics của Việt Nam, nhƣng tập trung đánh giá tình hình vận tải hàng hóa Việt Nam theo các phƣơng thức vận tải nhƣ: vận tải đƣờng bộ, vận tải đƣờng hàng không, vận tải đƣờng sắt, vận tải đƣờng thủy. Bên cạnh đó, tình hình kết cấu hạ tầng giao thông vận tải của Việt Nam trong thời gian nghiên cứu diễn ra cũng đƣợc xem xét và đánh giá một cách có hệ thống.
Bằng phƣơng pháp phân tích SWOT, các báo cáo này đã tiếp cận và trình bày nội dung nghiên cứu. Trên cơ sở những phân tích nêu trên, các báo cáo của Business Monitor International đã góp phần đƣa ra những khuyến cáo cụ thể và chi tiết để khắc phục tình trạng chậm phát triển của hệ thống hạ tầng logistics tại Việt Nam. Các nghiên cứu trong nước về phát triển ngành Logistics Báo cáo của Phòng Thƣơng mại và Công Nghiệp Việt Nam (2015): “Doanh nghiệp logistics trong bối cảnh Việt Nam tham gia sâu hơn vào các hiệp định thƣơng mại tự do” phân tích những cơ hội của ngành logistics khi gia nhập các hiệp định thƣơng mại tự do nhƣ gỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, gia tăng thƣơng mại quốc tế, thúc đẩy di chuyển các nguồn lực sản xuất, trong đó có máy móc, thiết bị và nguyên liệu, mở thêm cơ hội lớn cho ngành logistics. Đồng thời, báo cáo cũng đi sâu vào phân tích những khó khăn, thách thức khi hội nhập đòi hỏi các doanh nghiệp logistics cần phát huy tính chủ động, đổi mới tƣ duy và tăng cƣờng năng lực cạnh tranh thông qua liên kết với các doanh nhiệp cùng ngành, đẩy mạnh kết nối vận tải với các quốc gia trong khu vực và tăng cƣờng, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, ngoại ngữ, kiến thức về thƣơng mại quốc tế và thƣơng mại điện tử.
Luận án Tiến sĩ “Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dịch vụ logistics Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” của tác giả Bùi Duy Linh (2018): Tác giả đã tiến hành khảo sát 423 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 6 nhóm nhân tố tác động 7 đến năng lực cạnh tranh ngành dịch vụ logistics Việt Nam bao gồm: (1) sự phát triển hạ tầng cơ sở logistics; (2) sự phát triển của khung thể chế, pháp lý, điều chỉnh hoạt đồng logistics; (3) chất lƣợng nguồn nhân lực ngành logistics; (4) chi phí logistics; (5) tính hiệu quả của các quy trình, thủ tục, năng lực của các nhà cung cấp dịch vụ logistics; (6) nhu cầu và tiềm năng phát triển của dịch vụ logistics. Nghiên cứu cũng chỉ ra chất lƣợng nguồn nhân lực và hệ thống chính sách pháp luật là 2 yếu tố tác động mạnh nhất đến năng lực cạnh tranh ngành Logistics Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng kinh tế quốc tế. Nghiên cứu cũng cho thấy, việc giảm chi phí logistics và yếu tố chất lƣợng dịch vụ logistics có mức độ ảnh hƣởng tƣơng đối thấp.
Nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp logistics khu vực Đồng bằng sông Cửu Long” của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Nga (2019): Tác giả đã tiến hành nghiên cứu định lƣợng, thông qua phƣơng pháp phân tích nhân tố khám phá và phân tích hồi quy đa biến đã chỉ rõ 4 yếu tố tác động đến phát triển của các doanh nghiệp kinh doanh logistics tại Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả khảo sát từ 331 doanh nghiệp logistics có hoạt động kinh doanh tại khu vực đã chỉ ra 4 nhóm yếu tố tác động nhƣ sau: (1) yếu tố về chính sách của địa phƣơng; (2) yếu tố về môi trƣờng kinh doanh; (3) yếu tố về vốn; (4) yếu tố về năng lực nội tại của doanh nghiệp. Kết quả phân tích định lƣợng cho thấy, yếu tố môi trƣờng kinh doanh và yếu tố chính sách của địa phƣơng có tác động đáng kể lên khả năng phát triển của các doanh nghiệp. Yếu tố năng lực nội tại và yếu tố về vốn lần lƣợt xếp vị trí thứ 3 và thứ 4 về mức độ tác động.
Luận văn “Nâng cao chất lƣợng dịch vụ Logistics cho Công ty Cổ phần Vinalines Logistics Việt Nam”, Nguyễn Thị Phƣơng Thảo (2020) đã đƣa ra các cơ sở cơ bản về lý luận và thực tiễn mang tính khoa học về chất lƣợng dịch vụ Logistics, những nhân tố ảnh hƣởng và tiêu chí đánh giá chất lƣợng dịch vụ Logistics, sau đó đƣa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng dịch vụ Logistics tại Công ty Cổ phần Vinalines Logistics Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng cả phƣơng pháp định tính và định lƣợng, với 141/150 phiếu khảo sát đƣợc thu thập, cùng với dữ liệu thứ cấp, luận văn đã đƣa ra đƣợc các vấn đề tồn tại chính, từ đó đã đề xuất 8 những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lƣợng dịch vụ Logistics của Công ty Cổ phần Vinalines Logistics Việt Nam: Nâng cao thời gian giao nhận hàng hóa; Nâng cao độ an toàn của hàng hóa; Nâng cao tính chính xác của đơn hàng; Nâng cao tính đáp ứng của chất lƣợng dịch vụ; Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhân viên; Nâng cao cơ sở vật chất, trang thiết bị; Nâng cao phƣơng tiện hỗ trợ; Nâng cao sự cảm thông với khách hàng. Khoảng trống nghiên cứu Logistics là một ngành dịch vụ quan trọng trong cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò hỗ trợ, kết nối và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc cũng nhƣ từng địa phƣơng, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.