Đặt vấn đề Với sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghệ 4.0, dự đoán số lượng thiết bị truy cập và lựu lượng sẽ tăng gấp nhiều lần trong những năm tới. Để giảm tải cho mạng di động thì mạng di động cố định WiFi sẽ được sử dụng để giải quyết vấn đề này. Gần đây, Wireless Gigabit Alliance đã đề xuất việc sử dụng các sóng mm trong băng tầng 60 GHz miễn phí giấy phép, ở nơi có sẵn băng thông 7GHz cho phép liên kết không dây tầm ngắn 7Gbps. Các băng tần 60GHz cũng được coi là một phần trong khung IEEE 802.11ad cho thông lượng liên kết dữ liệu rất cao trong mạng không dây cục bộ (WLAN) sử dụng kỹ thuật MIMO.
Tuy nhiên, do sự mất mát cao của đường truyền sóng vô tuyến trong khoảng phổ này, liên kết 60GHz có tính định hướng cao, vì vậy cần số hóa phức tạp hướng chùm sóng và thuật toán theo dõi cho ứng dụng trong mạng di động không dây. Do trong tương lai phổ RF sẽ bị hạn chế, trở nên đắt tiền, tính bảo mật thấp và tốc độ kết nối sẽ không đáp ứng được nhu cầu sử dụng. Nhằm tìm hướng đi mới bổ sung cho kỹ thuật truyền sóng không dây đang được khám phá mà có thể làm giảm việc sử dụng phổ. Nhiều hứa hẹn tiếp cận khác là truyền thông quang không dây, nó cung cấp nhiều ưu điểm hơn đường truyền RF.
Gần đây nhất, công nghệ truyền dữ liệu bằng ánh sáng nhìn thấy VLC ( Visible Light Communication) hay còn gọi là Li-Fi đã được xác định là một giải pháp tiềm năng để giảm thiểu các cuộc khủng hoảng phổ RF. VLC đặc biệt hấp dẫn do ánh sáng là một thứ đã được tích hợp vào môi trường sống của con người, và cơ sở hạ tầng phức tạp đã tồn tại. Việc sử dụng quang phổ của ánh sáng nhìn thấy cho truyền dữ liệu tốc độ cao đã nhận được tín hiệu tích cực bởi sự nổi lên của đèn LED, đồng thời là trung tâm của làn sóng chiếu sáng tiết kiệm năng lượng thế hệ kế tiếp. Trong truyền thông quang không dây (OWC), tín hiệu có thể sử dụng miễn phí bước sóng trong phổ ánh sáng nhìn thấy được từ 380nm đến 750nm, và phổ NIR từ 750 đến 2 2.
Tổng tài nguyên băng thông có sẵn xấp xỉ khoảng 670THz, nó bằng tổng của hơn 10000 phổ RF băng tần 60GHz. Ngoài việc là một giải pháp bổ sung không can thiệp vào giải pháp công nghệ RF, OWC có lợi thế về hoạt động tự do trên nguồn tài nguyên phổ tần rất lớn. Thêm vào đó, tốc độ dữ liệu rất cao có thể được thực hiện bằng việc sử dụng chi phí thấp lớp front-ends với những đèn LED thương mại có sẵn và PD. Hơn nữa, nó an toàn cho sức khỏe miễn là tuân thủ đầy đủ các quy định an toàn về mắt.
Trở ngại này ít nghiêm trọng hơn khi sử dụng đèn LED không liên kết pha so với việc dùng laze. Với sự ra đời của đèn LED không liên kết pha công suất cao và PD có độ nhạy cao, OWC đã trở thành một ứng cử viên khả thi cho truyền dữ liệu tầm ngắn trong nhà mà có thể đóng góp vào sự nghiệp thiếu hụt phổ[1]. Hình 1-1: Ánh sáng khả kiến trong phổ RF Hiện nay công nghệ VLC sử dụng LED đang được phát triển, do sự phổ biến của LED trong đời sống, dự đoán sẽ dần thay thế bóng đèn sợ đốt trong tương lai. Tuy nhiên bóng LED vẫn chưa phải là vật liệu chiếu sáng tối ưu vì nó có một số nhược điểm như: độ sáng gây chói mắt, tuổi thọ khá thấp…Do đó công nghệ OLED ra đời để cải tiến 3 những vấn đề này, dự đoán trong tương lai không xa sẽ được sử dụng rộng rãi hơn LED bởi những ưu điểm của nó.
Có nhiều nghiên cứu đã và đang triển khai trên OLED tuy nhiên với tốc độ và băng thông còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Vấn đề đặt ra là giải quyết vấn đề băng thông của OLED. Đối với OLED vật liệu hữu cơ, độ linh động hạt tải thấp hơn so với chất bán dẫn do đó hạn chế đáng kể đáp ứng tần số của thiết bị. Tốc độ dữ liệu truyền tải đạt được thay đổi phụ thuộc vào chất liệu và kích thước của thiết bị OLED vì vậy thu hẹp phạm vi các ứng dụng truyền thông dữ liệu.
Một số phương pháp đã được đưa ra để cải thiện đáp ứng tần số thiết bị. Hầu hết các phương án cân bằng áp dụng cho OLED được dựa trên vật liệu sử dụng trong thiết bị. Các vật liệu sử dụng có thể có một tác động lớn đến hiệu suất thiết bị. Một phương án mạch cân bằng cải thiện thời gian sống huỳnh quang (FL) của OLED bằng cách lựa chọn cẩn thận các lớp hữu cơ.
FL là thước đo khoảng thời gian khi vật liệu hữu cơ vẫn còn bị kích thích trước khi photon phát xạ. Người ta đã kiểm tra các vật liêu khác nhau và thời gian FL cho thấy có thể là 0.6 ns, điều này cho thấy sự ảnh hưởng của vật liệu đến FL. Kể từ khi FL góp phần vào tốc độ truyền dẫn, thiết bị phát ra photon nhanh hơn với tốc độ cao hơn có thể đạt được. Để tạo ra OLED trắng hiệu suất cao, điều này là cần thiết để chọn lựa cẩn thận các màu sắc cơ bản trong lớp phát xạ.
Vật liệu khác nhau sẽ cho ra màu sắc khác nhau; để tạo ra ánh sáng trắng, toàn bộ quang phổ nhìn thấy phải được che phủ; để làm được điều này một số chất liệu bắt buộc phải có. Người ta phải đặt đúng trình tự để đảm bảo độ linh động hạt tải cao cho một độ dẫn điện nhất định. OLED có động linh động hạt tải thấp hơn so với chất liệu bán dẫn silic. Đối với OLED độ linh động hạt tải phụ thuộc vào 2 thông số chính: mật độ dòng điện và nhiệt độ.
Độ linh động hạt tải là trung bình tốc độ trôi trong trường điện, nơi mà điện áp phân cực cao có thể được áp dụng để tăng tính linh động, do đó làm cho tốc độ truyền tải nhanh hơn. Mặc dù vậy nhưng thực tế là đáp ứng thời gian OLED cũng bị ảnh hưởng bởi điện dung lớn do màn hình kích thước lớn của thiết bị OLED. Sự gia tăng kích thước bảng điều khiển OLED sẽ cải thiện khả năng chiếu sáng và chi phí sản xuất, tuy nhiên nó lại 4 làm cho điện dung ký sinh lớn hơn nhiều mà nó thì làm giới hạn băng thông điều chế OLED trên hệ thống VLC. Bộ tiền tăng cường (hay tiền khuếch đại – sau đây gọi là Pre-Emphasis) được phát triển ở đề tài trước để bù đắp diện dung lớn của kích thước bảng điều khiển thiết bị[2].
Các thực nghiệm chứng minh rằng băng thông OLED đã tăng lên nhiều lần nhưng vẫn còn một vài hạn chế là đáp ứng tần số của OLED nói riêng và của hệ thống nói chung vẫn chưa được phẳng. Hình 1-2: Đáp ứng tần số Câu hỏi nghiên cứu đặt ra của luận văn là: mạch Pre-Emphasis của đề tài trước đã tăng băng thông điều chế, nhưng băng thông không phẳng do đáp ứng phức tạp của OLED. Do đó, hướng nghiên cứu là thiết kế mạch Pre-Equalizer để giữ được độ bằng phẳng của băng thông, tăng độ phẳng của đáp ứng ở vùng tần số mong muốn, trong luận văn này là vùng tần số thấp. 5 Trong chương 2 cơ sở lý thuyết về mạch Pre-Equalizer sẽ được trình bày.
Trong chương 3, các kết quả đo đạc sẽ được so sánh và phân tích. Cuối cùng, chương 4 đưa ra kết luận chung.2 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu Đề tài sẽ giới thiệu, tìm hiểu và nghiên cứu các dạng mạch Pre-Equalizer khác nhau để áp dụng vào mô hình hệ thống VLC, mô hình đề xuất như trong Hình 1-3, sau đó chọn ra mạch Pre-Equalizer có các thông số (tốc độ, băng thông, đáp ứng.) tốt nhất so với hệ thống không dùng mạch Pre-Equalizer và thực hiện mạch thực tế thử nghiệm trên hệ thống sẵn có. Hình 1-3: Mô hình nghiên cứu Đề tài sử dụng máy phát tín hiệu dạng sóng sin hoặc xung vuông, tín hiệu sau đó được đưa qua mạch Pre-Equalizer để loại bỏ các tần số không mong muốn sau đó khuếch đại tín hiệu đủ lớn đưa vào mạch lái để lái OLED. Nguồn phát là OLED băng thông điều chế 4,1kHz.
Phía thu sử dụng bộ thu Photodiode khuếch đại thác lũ của hãng Thorlab, băng thông tối đa 10MHz với độ lợi 0dB, tín hiệu thu sẽ được đưa vào máy hiện sóng để xem dạng tín hiệu. Đề tài xây dựng hệ thống VLC với nguồn phát tín hiệu hình sin và xung vuông. Các thông số khảo sát hệ thống được thực hiện trong phòng dưới ánh sáng đèn huỳnh quang, bộ khuếch đại và khoảng cách khảo sát dự kiến là 15cm.3 Các đóng góp của luận văn Luận văn này có các đóng góp như sau: Thiết kế mạch Pre-Equalizer cải thiện đáp ứng tần số cho hệ thống VLC. Cải thiện đáp ứng tần số của OLED nói riêng và hệ thống VLC nói chung.
Nâng băng thông của hệ thống lên 4,2 lần từ 4,1kHz đến 17,5kHz khi sử dụng mạch Pre-Equalizer. So sánh và phân tích đáp ứng tần số, băng thông của hệ thống khi có mạch Pre-Equalizer và không có mạch Pre-Equalizer. Hệ thống VLC với mạch Pre-Equalizer có thể truyền tín hiệu dạng số với độ ổn định cao.1 Kỹ thuật Equalizer Mạch Equalizer là mạch cân bằng nhằm cải thiện đáp ứng tần số của tín hiệu ở những khoảng tần số mong muốn nhằm làm cho đáp ứng tần số phẳng từ đó cải thiện được băng thông cũng như tốc độ truyền tín hiệu. Mạch Equalizer có thể được đặt ở phía đầu phát (Pre-Equalier) nhằm lọc bỏ tần số không mong muốn, tăng độ lợi tín hiệu hoặc đặt ở phía thu (De-Equalizer) để loại bỏ tín hiệu nhiễu và khuếch đại tín hiệu mong muốn.
Các thiết bị như điện trở, tụ điện, transistor, op-amp.thường được sử dụng trong mạch Equalizer vì nó đơn giản, hiệu quả và chi phí thấp. Tuy nhiên, rất khó để xác định giá trị của các điện trở, tụ điện để có được đáp ứng tần số phẳng. Như đã biết, điều quan trọng cho hệ thống truyền thông tốc độ cao là có kênh truyền với đáp ứng tần số phẳng.1 Mạch lọc thông thấp RC thụ động Hình 2-1: Mạch lọc thông thấp RC 1 Ở tần số rất thấp, ta có: 𝑋𝐶 = →∞ (2.1) 2𝜋𝑓𝐶 Tụ C được xem như hở, kết quả 𝑉0 = 𝑉𝑖 (2.2) 1 Ở tần số cao, 𝑋𝐶 = → 0, tụ C xem như nối tắt 𝑉0 = 0𝑉 (2.