CHƯƠNG 1 Chương này cung cấp những thông tin để tác giả phát hiện ra các vấn đề nghiên cứu, xây dựng mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu đồng thời đề cập đến tầm quan trọng và ý nghĩa của việc nghiên cứu đối với việc phân tích lãi suất ngân hàng đến viện tuân thủ nộp thuế của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Tổng quan về hệ thống thuế tại Việt Nam: 2. Công tác quản lý thuế: Luật Quản lý thuế có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2007 là khung pháp lý cơ bản để đảm bảo tính minh bạch và liêm chính trong ngành thuế; quy định cụ thể về quản lý dịch vụ nộp thuế, khiếu nại và xử lý các vi phạm pháp luật về thuế. Một số điểm cơ bản trong Luật Quản lý thuế gồm: - Luật quy định rõ các quyền của người nộp thuế từ quá trình tính thuế, kiểm tra, thanh tra và khiếu nại về thuế.
Luật cũng quy định bắt buộc cơ quan quản lý thuế phải bồi thường cho đối tượng nộp thuế đối với những tổn thất do cơ quan thuế gây ra. - Luật quy định sử dụng một mã số thuế duy nhất và quy định phù hợp về nộp thuế và hoàn thuế. Nếu đối tượng chậm nộp thuế thì phạt theo mức 0,05%/ngày trên tổng số tiền chậm nộp; số tiền thuế nộp thừa sẽ được hoàn trả trong thời gian quy định. Tuy nhiên, Luật Quản lý thuế vẫn còn một số hạn chế cần xem xét như chưa quy định cụ thể và rõ ràng trách nhiệm giữa các cơ quan thuế các cấp gồm: Tổng Cục thuế, Cục thuế và Chi cục thuế.
Một số quy định còn thiếu trong Luật Quản lý thuế gồm: không có cơ chế hợp tác giữa cơ quan thuế và hải quan, không có quy định về kế toán và sổ sách kế toán trong Luật và chưa có quy định về kê khai thuế điện tử cũng như công nhận chữ ký điện tử của doanh nghiệp. Đặc điểm của thuế : Khái niệm: Thuế là khoản trích nộp bằng tiền, mang tính bắt buộc, tính quyền lực nhà nước không đối giá và hoàn trả trực tiếp cho các tổ chức, cá nhân nộp cho nhà nước khi đủ những điều kiện nhất định nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Căn cứ vào mục đích điều tiết của nhà nước mà chia thành 2 loại thuế là thuế trực thu và thuế gián thu 8 Thuế trực thu: Thuế điều tiết trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế, người nộp thuế người chịu thuế là một Thuế gián thu: Thuế điều tiết gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa dịch vụ, người nộp thuế không là người chịu thuế Đối tượng nộp thuế: là các loại hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam, trừ các đối tượng không thuộc diện chịu thuế theo quy định cuả Luật thuế và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành. Đặc tính của thuế: Thuế có những thuộc tính tương đối ổn định qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng có của nó, qua đó giúp ta phân biệt thuế với các công cụ khác.
Những đặc trưng đó là: Tính bắt buộc: Tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt giữa thuế với các hình thức động viên tài chính khác của ngân sách nhà nước. Đặc điểm này cho ta thấy rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hệ tiền tệ được hình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội đặc biệt việc động viên mang tính chất bắt buộc của nhà nước. Phân phối mang tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế là một phương thức phân phối của nhà nước, theo đó một bộ phân thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa vụ của người công dân. Tính không hoàn trả trực tiếp: Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở chỗ: thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua việc cung cấp các dịch vụ công cộng của nhà nước.
Sự không hoàn hảo trả trực tiếp được thể hiện kể cả trước và sau thu thuế. Trước khi thu thuế, nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế. Sau khi nộp thuế, nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế. Tính pháp lý cao: Thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao, được quyết định bởi quyền lực chính trị của nhà nước và quyền lực ấy được thể hiện bằng pháp luật.
9 Chức năng của thuế: Chức năng của thuế là sự thể hiện công dụng vốn có của thuế, và nó có tính ổn định tương đối. Trong suốt thời gian tồn tại và phát triển thuế luôn luôn thực hiện hai chức năng cơ bản sau: Chức năng huy động nguồn lực tài chính cho nhà nước: Ngay từ lúc phát sinh, thuế luôn luôn có công dụng là phương tiện đông viên nguồn tài chính cho nhà nước, là chức năng cơ bản của thuế. Nhờ chức năng huy động nguồn lực tài chính mà quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước được hình thành, qua đó đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của nhà nước. Chức năng này đã tạo ra những tiền đề để nhà nước tiến hành phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm của xã hội và thu nhập quốc dân trong xã hội.
Thuế là một nguồn chiếm tỷ trọng lớn nhất cho ngân sách nhà nước. Chức năng điều tiết kinh tế: Chức năng điều tiết kinh tế của thuế được thực hiện thông qua việc quy định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế, xây dựng chính xác các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng của người nộp thuế, sử dụng linh họat các ưu đãi và miễn giảm thuế. Trên cơ sở đó, nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung, phù hợp lợi ích của xã hội. Như vậy, bằng cách điều tiết và kích thích, chức năng điều tiết kinh tế của thuế đã được thực hiện.
Các loại thuế Thuế thu nhập doanh nghiệp và các chế độ thu ngoài thuế (phí, lệ phí): Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là một trong những nguồn thu chính trong hệ thống thu ngân sách của Việt Nam. Tổng nguồn thu thuế TNDN ở Việt Nam chiếm khoảng 7% GDP trong những năm gần đây (WB, 2011). Cùng một luật thuế được áp dụng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp kể cả trong và ngoài nước đã cơ bản góp phần tạo môi trường kinh doanh công bằng. Tuy nhiên, các quy định về khấu hao khá phức tạp với 53 loại tài sản cố định có thời gian sử dụng khác nhau mà nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp phải lựa chọn 1 trong 3 phương pháp khấu hao (phương pháp đường thẳng, số dư giảm dần và phương pháp khấu hao theo lượng 10 sản phẩm) để khấu trừ thuế.
Điều này dẫn đến làm tăng chí phí và thời gian của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến chi phí quản lý và mức độ tuân thủ của doanh nghiệp nộp thuế. Thực tế, nếu chia thành 3 nhóm tài sản theo 3 nhóm phương pháp khấu hao hoặc 1 phương pháp khấu hao đồng nhất cho 4-5 nhóm tài sản thì việc quản lý thuế và tuân thủ thuế sẽ tốt hơn. Một số khoản chi trong hoạt động kinh doanh theo luật tại Việt Nam không cho phép khấu trừ như các khoản chi từ phúc lợi và tiền thưởng cho người lao động hoặc các chi phí cho một số hoạt động xúc tiến bán hàng. Điều này cũng là một trong những nguyên nhân làm giảm động cơ tuân thủ thuế của doanh nghiệp.
Đối với mức thuế suất, hiện nay tuỳ theo loại hình doanh nghiệp mà có mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp khác nhau. Điều này dẫn đến phức tạp hoá công tác quản lý thuế. Chẳng hạn doanh nghiệp thông thường chịu mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 25% nhưng nhiều khoản mức thuế suất khác dao động từ 32% đến 52% được áp dụng cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dầu thô, khí đốt và các loại tài nguyên quý hiếm khác. Ngoài ra, một số doanh nghiệp được hưởng mức lãi suất ưu đãi từ 10% đến 20%.
Ngoài thuế, doanh nghiệp còn chịu nhiều khoản phí và lệ phí có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Theo quy định, việc xác định mức phí và lệ phí phải bảo đảm thời gian thu hồi vốn hợp lý và phù hợp với khả năng thanh toán đối với bên mua. Tuy nhiên, theo báo cáo của Ngân hàng thế giới (2011) cho thấy, không có mối liên hệ nào giữa mức phí và chi phí cung cấp một dịch vụ cụ thể. Một số quy định có chi phí thu và chi phí tuân thủ cao hơn mức thực thu; quá nhiều cách thức để xác định mức phí và lệ phí, chẳng hạn có khoảng 66 loại phí và lệ phí hải quan và khoảng 200 loại phí, lệ phí cho thử nghiệm thuốc chữa bệnh.
Việc phức tạp hoá các khoản phí, lệ phí cũng được xem như là một trong những yếu tố tác động đến việc tuân thủ nộp phí và lệ phí liên quan đến doanh nghiệp. Thuế thu nhập doanh nghiệp là một trong những nguồn thu chính của Việt Nam. Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu đánh vào lợi nhuận của các doanh nghiệp, thuế thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh dưới dạng lợi nhuận, 11 lợi tức, thuế thu nhập từ chủ đầu tư. Ở Việt Nam, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 thay cho Luật thuế lợi tức Về cơ sở thuế: Thuế TNDN chỉ đánh vào các tổ chức sản xuấ t kinh doanh.
Cơ sở thuế bao gồ m thu nhập từ hoa ̣t động đầ u tư vố n thuộc nhiề u nguồ n khác nhau. Có thể có một lỗ hổ ng về thuế , phầ n thu nhập từ bán quyề n sử du ̣ng đấ t có thể tránh thuế nế u toàn bộ công ty đươ ̣c bán, và đấ t đai, lúc đó, đươ ̣c tính là một phầ n của công ty. Cách tố t hơn là đánh thuế giá tri ̣đấ t theo cách thông thường.