CHƯƠNG I: TỔNG QUAN I. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ SỬ DỤNG CỒN RƯỢU Ở TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI I. SƠ LƯỢC VỀ PHÁT SINH, PHÁT TRIỂN CỒN RƯỢU Ở NƯỚC TA. Ở nước ta, nghề nấu rượu thủ công đã có từ ngàn xưa và chưa có tài liệu nào cho biết điểm khởi đầu.
Sản xuất cồn rượu theo kiểu công nghiệp ở nước ta chỉ bắt đầu năm 1898 do người Pháp thiết kế và xây dựng. Trước cách mạng Tháng 8 ở nước ta có các nhà máy rượu Hà Nội, Hải Dương, Nam Định, Bình Tây, Chợ Quán và Cái Rằng. Sau khi hòa bình lập lại (1955), các nhà máy không còn thiết bị nguyên vẹn nên tập trung, sửa chữa lại thành nhà máy rượu Hà Nội với năng suất 6 triệu lít/ năm. Cồn của các nhà máy ở nước ta làm ra nói chung chưa đạt TCVN-71, nhưng bản thân TCVN-71 về cồn rượu cũng thuộc loại thấp so với các nước tiên tiến trên thế giới.
Hiện trên lãnh thổ Việt Nam chỉ có ba cơ sở làm ra được cồn loại I thỏa mãn TCVN-71, đó là Công ty rượu bia Đồng Xuân Phú Thọ, Hà Nội và Bình Tây, tỉ lệ đạt loại I cũng chưa cao 70- 80%. Đến năm 1960, chúng ta có thêm hai nhà máy cồn từ rỉ đường là Việt Trì (Phú Thọ) và Sông Lam (Nghệ An), năng suất mỗi nhà máy là 1 triệu lít cồn/năm. Trong những năm chống Mỹ cứu nước, các tỉnh và địa phương xây thêm hàng loạt nhà máy rượu cỡ 1 triệu lít/năm như Lục Ngạn (Hà Bắc), Hưng Nhân (Thái Bình) và Tam Hiệp Phúc Thọ Hà Tây, ngoài ra ở hầu hết các tỉnh đều xây dựng phân xưởng cồn cỡ nhỏ 100000 lít cồn/năm như Quảng Bình, Sông Con Nghệ An, Bá Thước và Hàm Rồng Thanh Hóa, Khánh Cư Ninh Bình, Vĩnh Trụ Nam Định, trường vừa học vừa làm Hòa Bình, Hải Phòng, Hà Giang, Thanh Ba Phú Thọ. Tổng tất cả năng suất của các nhà máy lớn nhỏ vào khoảng 15 triệu lít /năm.
Sau năm 1975, chúng ta tiếp quản và xây thêm nhà máy rỉ đường Lam Sơn Thanh Hóa, Rượu Quảng Ngãi, Rượu Bình Dương, Bình Tây và một số cơ sở tư nhân khác. Nếu cộng tất cả các cơ sở sản xuất cồn rượu của nước ta ở thời VŨ THỊ THÙY DUNG Page 18 LUẬN VĂN THẠC SỸ 2010B điểm 1980-1985 thì hàng năm ta có thể sản xuất trên 30 triệu lít cồn, thời điểm này lượng cồn trong cả nước đạt cao nhất, vừa xuất khẩu vừa tiêu dùng trong nước. Vào những năm 1986-1987, do đổi mới cơ chế quản lý, nhiều xí nghiệp làm ăn thua lỗ, sản phẩm làm ra tiêu thụ chậm nên nhiều cơ sở sản xuât rượu bị phá sản hoặc cầm cố tài sản. Hai nhà máy sản xuất rượu lớn nhất là Bình Tây và Hà Nội chỉ sản xuất cầm chừng vì không còn thị trường xuất khẩu như trước đây, thị trường trong nước cũng bị thu hẹp vì rượu quốc doanh không cạnh tranh được với rượu thủ công.
Ở nước ta trước đây và hiện nay có một số loại rượu tương đối ngon (sản xuất công nghiệp), được người tiêu dùng trong nước và ngoài nước ưa chuộng như Lúa Mơi (Hà Nội), rượu Nàng Hương của Bình Tây, và Hoàng Đế của Thanh Ba Phú Thọ (Công ty Rượu bia Đồng Xuân), các loại rượu kể trên chất lượng không thua kém một số rượu mạnh ngoại nhập. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ SỬ DỤNG CỒN RƯỢU TRÊN THẾ GIỚI. Hầu hết các nước trên Thế Giới đều dùng cồn để pha chế rượu dùng chế biến đồ uống (chiếm 40%), 60% còn lại sử dụng cho các ngành công nghiệp khác, cồn được dùng pha chế rượu vang, rượu mạnh và bia. Sau đây là bảng số liệu “Tình hình tiêu thụ cồn ở một số nước năm 1957 Bảng 1: Tình hình tiêu thụ cồn ở một số nước năm 1957 Đồ uống có Trong đó Tên nước rượu quy ra Rượu mạnh Rượu vang Bia cồn VŨ THỊ THÙY DUNG Page 19 LUẬN VĂN THẠC SỸ 2010B Pháp 17.
CÁC CÔNG ĐOẠN SẢN XUẤT CỒN BẰNG PHƯƠNG PHÁP LÊN MEN Sản xuất ethanol trong công nghiệp gồm các bước sau: 1. Chọn nguyên liệu sản xuất rượu: Để sản xuất cồn etylic, về nguyên tắc ta có thể dùng bất kỳ nguyên liệu nào chứa đường hoặc polysaccarit nhưng sau khi thủy phân sẽ biến thành đường lên men được. Nguyên liệu dùng để làm rượu là các loại ngũ cốc có hàm lượng tinh bột cao thông dụng như gạo tẻ, gạo nếp, gạo nứt, gạo nương, lúa mạch, ngô, mầm thóc, sắn, hạt mít, hạt dẻ, hạt bo bo, mật mía… Yêu cầu đối với nguyên liệu phải thỏa mãn: - Hàm lượng đường hoặc tinh bột cao, có khả năng đem lại hiệu quả kinh tế cao - Vùng nguyên liệu phải tập trung và đủ thỏa mãn nhu cầu sản xuất. Lên men rượu Men rượu được chế từ nhiều loại thảo dược (thuốc nam, thuốc bắc) như cam thảo, quế chi, gừng, hồi, thạch xương bồ, bạch chỉ, xuyên khung, rễ ớt…theo những bí quyết và công thức riêng.
Nhào trộn hỗn hợp với bột gạo, thậm chí cả bồ hóng và ủ cho bột hơi VŨ THỊ THÙY DUNG Page 20 LUẬN VĂN THẠC SỸ 2010B nở ra sau đó vo, nắm từng viên nhỏ để lên khay trấu cho khỏi dính, đem phơi thật khô, cất dùng dần. Cơ chế: [3, 5] Lý thuyết lên men rượu đã được nhiều nhà sinh học nghiên cứu từ lâu và đưa ra cơ chế lên men rượu như sau: Đường và các chất dinh dưỡng được hấp thụ qua bề mặt tế bào rồi thẩm thấu vào bên trong. Ở đó các enzim sẽ tác dụng qua nhiều giai đoạn trung gian để cuối cùng tạo ra sản phẩm là rượu và khí cacbonic. Hai chất này đều khuếch tán và tan vào môi trường xung quanh.
Do rượu hoà tan trong nước với bất kì tỉ lệ nào nên nó khuếch tán vào môi trường một cách nhanh chóng, khí cacbonic cũng khuếch tán vào môi trường nhưng kém (ở nhiệt độ 25-30oC và áp suất 760mmHg, một lít nước hoà tan được 0,837-0,865 lít CO2). Tại thời điểm đầu khilượng CO2 còn nhỏ chúng sẽ hoà tan hoàn toàn. Khi môi trường bão hoà khíCacbonic thì chúng tạo thành các bọt khí bám quanh tế bào nấm men. Khi cácbọt khí đạt đến độ lớn nào đó thì lực đẩy Acximet lớn hơn trọng lượng tế bàonấm men + bọt khí và lúc đó tế bào nấm men cùng bọt khí nổi dần lên khi tới bềmặt, sau đó các bọt khí sẽ tan ra vỡ ra và tạo thành tiếng rào rào (ta quen gọi làmen ăn).
Khi khí bay lên tế bào nấm men lại chìm xuống tiếp xúc với dịchđường và tiếp tục quá trình trên. Như vậy, tế bào nấm men tham gia chuyển độngtrong môi trường lênmen, nhờ đó tốc độ hấp thụ và chuyển hoá đường thànhrượu sẽ tăng lên. Khi chất dinh dưỡng trong môi trường còn ít thì tế bào nấmmen lắng dần xuống đáy thùng và dịch lên men trong dần. Khi lên men có khoảng 95% đường biến thành rượu và CO2, còn 5% là tạo thành các sản phẩm khác và đường sót.
Lên men thường được tiến hành ở nhiệt độ 28 – 32oC và pH = 4,5 – 5,2 Sản phẩm cuối của giai đoạn này là giấm chín, thường có độ cồn 7-10% thể tích. VŨ THỊ THÙY DUNG Page 21 LUẬN VĂN THẠC SỸ 2010B 3. Chưng cất và tinh chế cồn etanol III. SỰ HÌNH THÀNH HỆ ETHANOL VÀ CÁC TẠP CHẤT BẰNG PHƯƠNG PHÁP LÊN MEN.
Cơ chế hóa sinh học của lên men rượu. Lên men rượu là một quá trình sinh học rất phức tạp, xảy ra dưới tác dụng của nhiều enzyme. Sự tạo thành rượu từ glucoza được trải qua 12 giai đoạn: 1) C 6H12 O6 + ATP → CH2O(H2PO3)(CHOH)4CHO + ADP 2) CH 2O(H2PO3)(CHOH)4CHO CH2O(H2PO3)(CHOH)3COCH2 OH 3) CH 2O(H2PO3)(CHOH)3COCH 2OH + ATP CH2O(H2PO3)(CHOH)3COCH 2O(H2PO3) + ADP 4) CH 2O(H2PO3)(CHOH)3COCH 2O(H2PO3) CH2O(H2PO3)COCH2OH + CH2O(H2PO3)CHOHCHO 5) CH 2O(H2PO3)COCH2OH CH2O(H2 PO3)CHOHCHO 6) 2CH 2O(H2PO3)CHOHCHO + 2 H2PO3 + 2NaD →2CH2O(H2PO3)CHOHCOO ~ H2 PO3 + 2NaD.H2 7) 2CH 2O(H2PO3)CHOHCOO ~ H 2PO3 + 2ADP → 2CH2O(H2PO3)CHOHCOOH + 2ATP 8) 2CH 2O(H2PO3)CHOHCOOH 2CH2OHCHO(H 2PO3)COOH 9) 2CH 2OHCHO(H2 PO3 )COOH 2CH3 CO(H2PO3)COOH + 2H 2O 10)2CH 3CO(H 2PO3 )COOH + 2ADP → 2CH3CO-COOH + 2ATP 11)2CH 3CO-COOH → 2CO2 + 2CH3CHO 12)2CH 3CHO + 2NaD.H 2 → 2CH 3CH2OH + 2NaD Phương trình tổng quát lên men rượu như sau: C6H12 O6 ⎯⎯⎯ zymaza → 2CO 2 + 2CH3CH 2OH VŨ THỊ THÙY DUNG Page 22 LUẬN VĂN THẠC SỸ 2010B 2. Sự tạo thành sản phẩm phụ và sản phẩm trung gian của quá trình lên men rượu.
Sự tạo thành axit Trong quá trình lên men rượu luôn tạo ra các axit hữu cơ bao gồm: axit axetic, lactic, xitric, pyrovic và succinic nhưng nhiều hơn cả là axit axetic và lactic. CH3CHO + CH3 CHO + H 2O = CH3COOH + C2H5 OH axitaxetic CH2O(H2PO3)CHOHCHO + 2H2O = CH3CHOHCOOH + NAD axitlactic 2. Sự tạo thành alcol cao phân tử Một trong những sản phẩm phụ quan trọng được tạo thành trong quá trình lên men rượu là các rượu có số phân tử cacbon lớn hơn hai. Các alcol này tuy ít nhưng nếu lẫn vào cồn sẽ gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng sản phẩm và gây ra mùi hôi khó chịu.
Các alcol này có tên chung là dầu fusel. Hỗn hợp dầu fusel thường chứa các rượu sau: n- propanol, iso-propanol, n-butanol, iso-butanol, iso-amylic Nguyên nhân hình thành dầu fusel là do nấm men sử dụng nito của các axit amin. −H 2 R − CH (NH 2 )COOH ⎯⎯⎯ → R − CH (NH )COOH ⎯⎯⎯ + H 2O → R − CH (O ) COOH − a min oax it → R-CHO ⎯⎯⎯ ⎯⎯⎯ − CO2 + H2 → R-CH 2OH. Sự tạo thành este Song song với việc tạo ra axit và alcol, dưới tác dụng của enzyme esteraza của nấm men, các axit và alcol sẽ tác dụng lẫn nhau để tạo thành những este tương ứng, chủ yếu là etylacetat R1CH2OH + R2 COOH → R1CH2OH + R2COOCH2 R1 + H2O.
Sự tạo thành các anđehyt Sản phẩm trung gian trong chuỗi chu trình tạo thành rượu cao phân tử và tạo ethanol có xuất hiện các anđehyt, nhiều nhất và điển hình là anđehytacetic. [1] VŨ THỊ THÙY DUNG Page 23 LUẬN VĂN THẠC SỸ 2010B IV. PHƯƠNG PHÁP CHƯNG LUYỆN GIÁN ĐOẠN DÙNG ĐỂ TINH CHẾ HỖN HỢP ETANOL-NƯỚC VÀ CÁC TẠP CHẤT 1. Quá trình chưng cất, chưng luyện, chưng luyện gián đoạn Chưng cất bao gồm hai quá trình bay hơi và ngưng tụ phần bay hơi đó (mỗi quá trình chỉ xảy ra một lần).
Trong sản xuất rượu thì chưng cất chính là tách ethanol và các tạp chất ra khỏi hỗn hợp giấm chín, hỗn hợp thu được là rượu thô có nồng độ thấp (40- 50% thể tích) Quá trình chưng cất rượu có thể dựa vào 2 định luật do Conovalop và Vrepski đưa ra: Định luật I: Thiết lập quan hệ giữa thành phần pha lỏng và pha hơi.