Chương 1 Tổng quan LogicMonitor đã thực hiện bài nghiên cứu có tên Tầm nhìn ĐTĐM 2020 (LogicMonitor’s Cloud Vision 2020: The Future of the Cloud Study), điều tra về xu hướng sử dụng ĐTĐM và các dự đoán công nghệ. Theo báo cáo, 83% doanh nghiệp sẽ lên "mây" vào năm 2020. LogicMonitor dự đoán 41% số lượng đó sẽ được đưa lên các đám mây công cộng như Amazon AWS, Google Cloud Platform, IBM Cloud và Microsoft Azure (Hình 1. Sự chuyển dịch lên ĐTĐM mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp.
Chi phí vận hành, bảo trì được cắt giảm nhờ vào việc sử dụng các nền tàng hạ tầng có sẵn. Bên cạnh đó, các nhà cung cấp dịch vụ đều có chế độ pay-as-you-go, trả tiền theo mức độ sử dụng thực tế. Doanh nghiệp được phần nào giải phóng khỏi vấn đề bảo mật. Phía nhà cung cấp ĐTĐM đều có đội ngũ bảo mật riêng, dữ liệu truyền tải đều được mã hóa do đó sự mất mát thông tin hoặc chiếm quyền tấn công của hacker là điều không thể.
Sự linh hoạt về tài nguyên sử dụng là một trong những ưu việt mà ĐTĐM mang tới, mà điển hình là mô hình trả phí theo nhu cầu (pay-as-you-go). Điều này giúp cho các tổ chức sử dụng linh hoạt các tài nguyên của hệ thống, thay vì chỉ định các phần cứng đặc biệt cho từng nhu cầu. Trước khi có ĐTĐM, các trang website, ứng dụng theo mô hình khác-chủ được triển khai trên trên một hệ thống vật lí cụ thể. Với công nghệ ĐTĐM, các tài nguyên được sử dụng dưới dạng các máy ảo.
Cấu hình hợp nhất này cung cấp môi trường cho các ứng dụng thực hiện một cách độc lập mà không quan tâm tới cấu hình cụ thể nào. Với ĐTĐM, tài nguyên sẽ được cung cấp một cách mềm dẻo theo nhu cầu sử dụng, mô hình này giúp giảm thiểu nguy cơ cung cấp thừa tài nguyên, giảm sự lãng phí tài nguyên trong các giờ không cao điểm, và tránh việc thiếu tài nguyên trong các giờ cao điểm [20]. Tuy vậy, vấn đề này khá khó khăn để đạt được khi mà các nhà cung cấp dịch vụ cần có một cơ chế khác, hỗ trợ tối ưu hóa ngay lập tức và chính xác số lượng tài nguyên thay vì cơ chế sử dụng ngưỡng như hiện này. Lấy ví dụ với sư phát triển của các thiết bị phần cứng Internet of Thing hiện nay, số lượng sensor kết nối với ĐTĐM ngày càng trở nên đơn giản và phổ biến.
Mô hình IoT là mẫu hình cho phép các vật, đối tượng, cảm biến kết nối với nhau. Nền tảng sử dụng IoT như hệ thống thành phố thông 12 Hình 1.1: Sự cung cấp tài nguyên theo nhu cầu (nguồn: LogicMonitor) Hình 1.2: Dung lượng dữ liệu truyền tải của IoT 13 minh, nhà thông minh cần có khả năng tự động mở rộng tối đa và cần ít sự tác động của con người. Theo báo cáo của Gardner, có tới 8.4 tỉ các thiết bị được kết nối trong năm 2017 và tăng lên 20,4 tỉ thiết bị vào năm 2020. Số lượng các metric được tăng cả về tốc độ cũng như khối lượng (Hình 1.
Dẫn tới việc theo dõi, quản lý thiết lập các ngưỡng bằng tay từ phía nhà quản trị trở nên cực kỳ khó khăn và phức tạp. Do đó, bài toán đặt ra hệ thống không chỉ có khả năng khả mở tài nguyên nhanh chóng mà còn có khả năng tự động điều chỉnh dựa vào dữ liệu mà ít cần sự tương tác của con người. Bằng việc dự đoán tài nguyên sẽ sử dụng trong tương lai, hệ thống sẽ tự động ra các quyết định chính xác về lượng tài nguyên cần thiết. Hệ thống sẽ biết trước và chính xác lượng tài nguyên cần cung cấp trong tương lai gần cho ứng dụng là bao nhiêu, từ đó cho phép tăng giảm tài nguyên trước khi nảy sinh các vấn đề về hoạt động do thừa hoặc thiếu tài nguyên cung cấp.
Các nghiên cứu về dự đoán mô hình tự động khả mở thu hút được nhiều sự chú ý. Trong khi độ chính xác của mô hình luôn là một thách thức thú vị, vấn dề xử lý dữ liệu nhiều chiều (CPU, bộ nhớ sử dụng, tốc độ đọc/ghi) trong cùng một lúc chưa nhận được nhiều quan tâm. Bởi vì giữa các metric đó tồn tại các mối quan hệ với nhau ví dụ như CPU và bộ nhớ, bộ nhớ và tốc độ đọc/ghi,.Từ đó kết quả dự đoán chưa hợp lý khi triển khai thực tế. Để giải quyết bài toán, mô hình mới cần có khả năng xử lý dữ liệu thời gian nhiều chiều.
Bên cạnh đó, các nghiên cứu về bài toán dự đoán chuỗi thời gian thiếu đi phương án đánh giá sự hiệu quả của việc ra quyết định tăng/giảm dựa vào giá trị dự đoán. Về góc nhìn SLA, các nghiên cứu [3], [2] và framework [1], [8] đã được đề xuất nhằm giữ ổn định vi phạm SLA. Tuy nhiên các nghiên cứu đó được đề xuất trong môi trường khả mở truyền thống. Vì vậy, một hệ thống đánh giá vi phạm SLA trong bài toán dự đoán khả mở trong tương lai là điều rất cần thiết.
Dựa vào các hướng nghiên cứu trên, những đóng góp chính của luận án này bao gồm: • Xây dựng hệ thống khả mở chủ động trong môi trường ĐTĐM gồm 2 thành phần: module dự đoán và module ra quyết định • Đề xuất mô hình mới dự đoán tài nguyên sử dụng trong tương lai khai thác mối quan hệ giữa các dữ liệu đo đạc như CPU, RAM, Disk I/O,. bằng mô hình học sâu. • Áp dụng chuỗi thời gian mờ (fuzzy timeseries) nâng cao chất lượng dự đoán • Đề xuất mô hình ra quyết định dựa vào dữ liệu dự đoán và ước lượng vi phạm SLA Các phần của luận văn được bố cục như sau: chương 2 trình bày các cơ sở lý thuyết chính được sử dụng và liệt kê một số nghiên cứu liên quan. Chương 3 trình bày đề xuất mô hình mới cùng các phân tích về mô hình.
Các thí nghiệm đánh giá và so sánh mô hình được thực hiện trong chương 4. Cuối cùng chương 5 tóm tắt lại những kết quả đạt được trong luận văn. 14 Chương 2 Các nghiên cứu liên quan 2.1 Tổng quan về điện toán đám mây 2.1 Khái niệm Thuật ngữ ĐTĐM ra đời từ những năm 2007 với mục đích khái quát lại các hướng đi của cơ sở hạ tầng thông tin vốn đã và đang diễn ra từ mấy năm qua. Theo Viện tiêu chuẩn và công nghệ quốc gia Mỹ [21], ĐTĐM là mô hình cho phép truy cập mạng để lựa chọn và sử dụng tài nguyên có thể tính toán và tùy chỉnh được (ví dụ như mạng, máy chủ, lưu trữ, các ứng dụng và các dịch vụ) theo nhu cầu một cách thuận tiện, đồng thời cho phép cung cấp và giải phóng chúng một cách nhanh chóng, giảm thiểu tối đa sự thao tác của quản trị viên.
Với các dịch vụ sẵn có trên Internet, doanh nghiệp không phải mua và duy trì hạ tầng cũng như phần mềm mà chỉ cần tập trung vào kinh doanh, nghiệp vụ riêng bởi đã có các nhà cung cấp dịch vụ ĐTĐM lo cơ sở hạ tầng và công nghệ thông tin thay họ. Đa số người dùng Internet đã tiếp cận những dịch vụ đám mây phổ thông như email, bản đồ số,. Tính linh hoạt của ĐTĐM là phân phát tài nguyên theo yêu cầu. Điều này tạo khả năng mềm dẻo, thuận lợi cho việc sử dụng các tài nguyên của hệ thống, loại bỏ sự ràng buộc phải đầu tư phần cứng cụ thể cho một nhiệm vụ.
Trước khi có ĐTĐM, các trang web hoặc các ứng dụng được chạy trên một máy chủ cụ thể hoạt động trong một hệ thống. Với sự ra đời của ĐTĐM, các tài nguyên được hợp nhất và sử dụng như kho chung. Cấu hình hợp nhất này cung cấp một môi trường ở đó các ứng dụng thực hiện một cách độc lập mà không quan tâm đến bất kỳ cấu hình cụ thể nào.Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ cũng định nghĩa 5 đặc trưng cốt lõi của mô hình ĐTĐM: • Dịch vụ cung cấp theo nhu cầu (On-demand self-service): Người dùng tự mua, tự thuê, tự cấu hình triển khai các dịch vụ ĐTĐM theo các chuẩn định sẵn (template) mà không tới sự trợ giúp của bộ phân IT. Để làm đươc điều này, các nhà cung cấp hạ tầng phải tạo ra các chuẩn định sẵn từ trước.
Các chuẩn định sẵn này chứa các cấu hình đã đươc định nghĩa trước, căn cứ vào đó ngườ i dùng sẽ tùy chỉnh thêm và cài đặt thêm các dịch vụ thêm theo nhu cầu. Môt số ví dụ 15 Hình 2.1: Mô hình triển khai ĐTĐM về chuẩn định sẵn như HP Cloud Maps của HP, CloudForms của RightScale và Red Hat,. • Truy cập mạng băng thông cao (Broad network access): Tài nguyên tính toán luôn sẵn sàng ở toàn mạng và được truy cập thông qua các chuẩn mạng. • Tài nguyên không giới hạn (Resource Pooling): Nhà cung cấp dự trữ các tài nguyên tính toán để chia sẻ cho nhiều người sử dụng bằng mô hình multi-tenant, tự động cung cấp các tài nguyên vật lý hoặc ảo theo nhu cầu của họ.
• Cung cấp tài nguyên mềm dẻo (Rapid Elasticity): Tài nguyên tính toán được cung cấp và giải phóng 1 cách mềm dẻo tự động, tự mở rộng hoặc thu nhỏ lại. Với người sử dụng thì tài nguyên tính toán cung cấp gần như không giới hạn, ở bất cứ nơi đâu và bất cứ lúc nào. • Dịch vụ đo lường (Measured Service): Các hệ thống ĐTĐM tự động quản trị và tối ưu tài nguyên sử dụng bằng cách tận dụng năng lực đo đạc ở mức trừu tượng phù hợp với các dịch vụ. Lượng sử dụng tài nguyên được giám sát, điều khiển và thống kê hoàn toàn trong suốt với cả nhà cung cấp và người sử dụng.2 Mô hình dịch vụ Dịch vụ Cloud Computing rất đa dạng và bao gồm tất cả các lớp dịch vụ điện toán từ cung cấp năng lực tính toán trên dưới máy chủ hiệu suất cao hay các máy chủ ảo, không gian lưu trữ dữ liệu, hay một hệ điều hành, một công cụ lập trình, hay một ứng dụng kế toán.
Các dịch vụ cũng được phân loại khá da dạng, nhưng các mô hình dịch vụ Cloud Computing phổ biến nhất có thể được phân thành 3 nhóm: Dịch vụ hạ tầng (IaaS), Dịch vụ nền tảng (PaaS) và Dịch vụ phần mềm (SaaS), được minh họa ở Hình 2.1 Hạ tầng như dịch vụ Đây là mô hình dịch vụ ĐTĐM cơ bản nhất, các nhà phát hành IaaS cung cấp các hạ tầng tính toán, bộ nhớ lưu trữ được ảo hóa bởi nền tàng hypervisor như Xen, Oracle Virtual Box, KVM, 16 VMware,.