Chương 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE ROI LOAN HANH VI TRE EM VA CAN THIEP TAM LY 1.1 Tổng quan nghiên cứu về rối loạn hành vi 1.1 Các nghiên cứu về tỷ lệ dịch tễ rỗi loạn hành vi Rối loạn hành vi bao gồm Rối loạn thách thức chống đối (ODD) và Rối loạn ứng xử (CD). Phần dưới đây trình bày những kiến thức giúp phân biệt, định nghĩa hai loại rỗi loạn hành vi nói trên. Tỷ lệ dịch tễ về rối loạn thách thức chống đối Có nhiều ước tính về số lượng trẻ em và thanh thiếu niên mắc chứng ODD. Trong nghiên cứu dich té học của Costello và cộng sự (2003), tỷ lệ được chân đoán rối loạn thách thức chống đối theo DSM-IV là 2,1% ở nhóm trẻ từ 9-10 tuổi được đánh giá hang năm đến 16 tudi.
Tỷ lệ tăng dần đến 15 tuổi là 4,1% nhưng đến 16 tuổi giảm còn 2,2% [2]. Trong nghiên cứu của Ford và cộng sự (2003), tỷ lệ rối loạn thách thức chống đối là 2,8% ở lứa tuôi 8-10 và đến 13-15 tuổi, tỷ lệ này giảm đáng ké xuống 1,4% [3]. Có bang chứng cho thấy rằng từ 1-16% trẻ em và thanh thiếu niên có ODD [4]. Ở trẻ nhỏ, ODD phổ biến ở bé trai hơn bé gái.
Tuy nhiên, ở trẻ em và thanh thiếu niên trong độ tuôi đi học, tình trạng này xảy ra ở cả nam và nữ như nhau [10]. Theo DSM- 5, tỷ lệ mắc chứng rối loạn thách thức chống đối dao động từ 1% đến 11%, với ước tính tỷ lệ mắc bệnh trung bình là khoảng 3,3%. Tỷ lệ roi loạn thách thức chống đối có thé khác nhau tùy thuộc vào độ tuổi và giới tính của trẻ. Rối loạn dường như phổ biến hơn ở nam giới so với nữ giới (1,4:1) trước tuổi vị thành niên.
Sự chiếm ưu thé của nam giới này không nhất quán trong các khách thể thanh thiếu niên và người lớn [6]. Tỷ lệ dịch tễ về rối loạn ứng xử 10 Rối loạn ứng xử có biểu hiện là hành vi chống đối xã hội lặp đi lặp lại và đai đăng, chỉ liên quan đến một số ít thanh thiếu niên. Khi xem xét nghiên cứu dịch tễ học từ nhiều quốc gia khác nhau, Zoccolillo (1993) đã tìm thấy, đối với thanh thiếu niên, tỷ lệ thay đổi từ khoảng 3% đến 10% ở nam giới và từ khoảng 1% đến 7% ở trẻ em gái [11]. Trong nghiên cứu dịch té học của Costello và cộng sự (2003), tỷ lệ rỗi loạn ứng xử là 4% ở nam và 1% ở nữ, trong nhóm tuổi 11-16 [2].
Trong nghiên cứu của Ford và cộng sự (2003), tỷ lệ rối loạn cư xử ở lứa tuổi 13-15 là 3% [3]. Theo DSM - 5, ước tính ty lệ rối loan ứng xử trong dân số một năm dao động từ 2% đến hơn 10%, với mức trung bình là 4%. Tỷ lệ rối loạn ứng xử dường như khá nhất quán ở các quốc gia khác nhau về chủng tộc và sắc tộc. Tỷ lệ phô biến tăng từ thời thơ ấu đến tuổi thiếu niên và cao hơn ở nam giới so với nữ giới.
Rất ít trẻ em mắc chứng rối loạn ứng xử được điều trị [6]. Với những thống kê như trên, có thê thấy trẻ trai cần được chú ý, chăm sóc về các vấn đề hành vi nhiều hơn trẻ em gái.2 Độ tuổi mắc rồi loạn hành vi Đối tượng trong các nghiên cứu chân đoán rối loạn hành vi thách thức chống đối và rối loạn ứng xử có độ tuôi từ 7-16 tuổi. Có thé thay, đây là độ tudi thường thấy trong các nghiên cứu về trẻ có rối loạn hành vi. Cohen và cộng sự (1993b) tiến hành nghiên cứu tại New York trên ba nhóm khách thê 10-13 tuổi, 14-16 và 17-21 tuổi [8] và thấy rằng dường như nhóm tuổi lớn nhất không có tỷ lệ rối loạn hành vi đáng kể.
Kashani (1987), Columbia, nghiên cứu 14-16 tuổi [12] báo cáo 8,7% khách thé được chan đoán là bị rối loạn hành vi, theo tiêu chí DSM-III. Feehan (1994) nghiên cứu tai Dunedin, New Zealand nghiên cứu nhóm trẻ 18 tuổi [13] báo cáo 5,5% rối loạn ứng xử, trong đó trẻ gái 4,1% và trai là 7,2%. 11 Trong quá trình thực hành lâm sàng, học viên cũng nhận thấy rằng không nên đưa ra các chân đoán sớm hơn trước 6 tuôi đối với rối loạn hành vi, bởi lẽ ở độ tuổi trước khi đi học, trẻ chưa đến trường học toàn bộ thời gian, chưa có khả năng hình thành, tuân thủ kỷ luật một cách nghiêm túc. Do đó, nếu kết luận răng trẻ vi phạm kỷ luật trong khi chúng chưa có kỷ luật là “không công bang”, không phù hợp.
Ngoài ra, trước 6 tuổi trẻ có những giai đoạn “khủng hoảng lên 3” và “khủng hoảng lên 5”, đây là những giai đoạn được đặc trưng bởi các hành vi phá vỡ, gây han, ăn va,.Vi vay, phai doi qua các giai đoạn khủng hoảng này mới có thé khang định được các hành vi ấy là tự nhiên, sẽ tự biến mat ở các giai đoạn sau hay là biểu hiện của rối loạn. Dựa trên những quan sát cá nhân, học viên nhận thấy, sau độ tuôi thành niên, dường như rối loạn hành vi cũng không còn là vấn đề đáng lo ngại ở trẻ nữa. Nhờ vào quá trình rèn luyện, học tập ở trường, ở nhà, phần lớn trẻ đều học được kỷ luật trong những năm tháng đi học, sau đó tự điều chỉnh các hành vi có xu hướng phá vỡ. Một bộ phận trẻ, là những trường hợp phát triển biểu hiện rối loạn hành vi nghiêm trong, dai dang, sẽ trở thành những cá nhân khác biệt, cần được chăm sóc chuyên biệt ở trường giáo dưỡng hoặc thậm chí phạm tội nguy hiểm.
Những trường hợp này nằm ngoài khả năng hỗ trợ cá nhân từ các nhà trị liệu, các nhà khoa học nghiên cứu diện rộng như trong các nghiên cứu trên.2 Lý luận về rối loạn hành vi ở trẻ em 1.1 Khái niệm rỗi loạn hành vi Năm 2012, Jean Dumas đưa ra định nghĩa Rối loạn hành vi về mặt mô tả, bao gồm một loạt các hành vi gây rỗi như không vâng lời lặp đi lặp lại, khiêu khích, ăn cắp, nói dối, va gây han bằng lời nói và thé chất. Theo nghĩa chân đoán hoặc lâm sàng, những rôi loạn này giả định có sự hiện diện của một 12 số hành vi gây rối được xác định rõ dựa trên các tiêu chí cụ thể (ví dụ: tuổi, thời gian của các triệu chứng) [15] Theo Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ (APA), rỗi loạn hành vi dùng dé chỉ bat kỳ kiêu hành vi dai dang va lặp di lặp lai nào vi phạm các chuan mực hoặc quy tắc xã hội, làm suy giảm nghiêm trọng chức năng của một người hoặc gây đau khô cho người khác [56]. Rối loạn hành vi ở trẻ em và vị thành niên chỉ những hành vi có thé quan sát được ở những người trẻ tuổi đi chệch khỏi chuẩn mực [55]. Thuật ngữ này thường được sử dụng trong giáo dục đặc biệt và phân loại các van đề ở trường học.
Rối loạn hành vi được biểu hiện ở trẻ em và thanh thiếu niên, bao gồm các thói quen (ví dụ: cắn móng tay, giận dir), dai dam, hanh vi phá vỡ (vi du: phá hoại, đốt nhà, sử dụng rượu hoặc ma túy, phạm tội tình dục, ăn cắp) và những khó khăn tập trung ở trường học (ví dụ: trốn học, ám anh học đường, hành vi gay roi).2 Phân loại các rồi loan hành vi Hiện nay có hai chứng rỗi loạn hành vi xã hội được đánh dấu bằng một kiểu hành vi gây rối lặp đi lặp lại va dai dang gây ra sự suy giảm đáng kế chức năng xã hội và trường học: rối loạn thách thức chống đối và rối loạn ứng xử. Rối loạn thách thức chống đối (ODD): Đây là một dạng van đề về hành vi, trong đó, trẻ em tỏ ra thù địch, bat hợp tác va cau kinh. Trẻ mat bình tĩnh, xấu tính và cay nghiệt với người khác. Hầu hết các hành vi thách thức của họ là nhằm vào các nhân vật có quyền lực, nhưng đôi khi họ cũng cư xử theo cách tương tự đối với anh chị em, bạn chơi hoặc bạn cùng lớp của mình.
Cuộc sống gia đình, cuộc sống học đường và các mối quan hệ đồng đắng của họ bị ảnh hưởng tiêu cực nghiêm trọng do cách họ suy nghĩ và hành xử. Dumas định nghĩa Rối loạn thách thức chống đối được đặc trưng bởi các hành vi vi phạm, chống đối và thách thức dẫn đến xung đột rõ rệt với những người xung quanh [15] Định nghĩa về rối loạn thách thức chống đối trong DSM-IV-TR mô tả, rỗi loạn hành vi thời thơ âu được đặc trưng bởi hành vi không vâng lời, tiêu cực hoặc thù địch tái dién đối với các nhân vật có thâm quyền rõ rệt hơn thường thấy ở trẻ em cùng độ tuôi và kéo dai ít nhất 6 tháng: được biéu hiện thông qua những cơn giận dữ, chủ động thách thức các quy tắc, chậm chạp, thích tranh luận, bướng bỉnh hoặc dễ bực mình. Các hành vi thách thức thường không liên quan đến hành vi gây hắn, phá hoại, trộm cắp hoặc lừa dối, giúp phân biệt chứng rối loạn này với chứng rối loạn ứng xử. Rối loạn thách thức chống đối nên được phân biệt với rối loạn giảm chú ý, tăng động hay rối loạn tăng động giảm chú ý thường xảy ra đồng thời.
Trong DSM-5, các đặc điểm của triệu chứng phần lớn được giữ lại nhưng được chia thành các nhóm phụ gồm tâm trạng (vi dụ: tức giận, cau kinh), hành vi (ví dụ: tranh luận, thách thúc) hoặc báo thù. Trong luận văn này, học viên sử dụng định nghĩa Rối loạn hành vi chống đối là những mẫu hành vi tiêu cực, chống doi, thù nghịch gây ảnh hướng nghiêm trọng đến sinh hoạt thường ngày. Và tất cả những mẫu hành vi này đều được coi là biểu hiện của rối loạn hành vi. Roi loạn ung xứ (CD): Rối loạn ứng xử đôi khi xảy ra muộn hơn, nghiêm trọng hơn, giai đoạn của rối loạn thách thức chống đối (ODD).
Họ thường khó hiểu người khác nghĩ thế nào. Một đứa trẻ với CD không chỉ là “xấu”, CD thực sự là một rối loạn tâm thần cần sự trợ giúp của chuyên gia [24]. Dumas cho răng rối loạn ứng xử nghiêm trong hơn khi ngoài những hành vi nay còn có thêm sự vi phạm các quyên cơ bản của người khác và các 14 chuẩn mực xã hội lặp đi lặp lại. Tại mọi thời điểm, những người trẻ tuổi đã chống lại uy quyền của cha mẹ hoặc các quy tắc xã hội thông qua hành vi hung hăng hoặc phạm pháp [15].