CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT. Tổng quan về siêu âm cắt lớp. Siêu âm là gì?.
Cơ sở vật lý của siêu âm. Phân loại máy siêu âm. Cấu tạo máy siêu âm. Chụp cộng hưởng từ MRI.
Kỹ thuật siêu âm cắt lớp dựa trên tán xạ ngược. Tổ chức luận văn. 10 CHƯƠNG II. NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG.
Ảnh hưởng của mật độ tới sự tạo ảnh. Ảnh hưởng của mật độ trong trường áp suất bị tán xạ bởi trụ tròn. Ảnh hưởng của biến đổi mật độ trong tái tạo tốc độ âm thanh sử dụng DBIM. Phương pháp lặp vi phân Born.
Bài toán ngược. So sánh phương pháp tạo ảnh tương phản và tạo ảnh mật độ. Mô phỏngtạo ảnh mật độ sử dụng DBIM. Kịch bản mô phỏng hàm mục tiêu.
Kết quả mô phỏng hàm mục tiêu. Tìm giá trị x tối ưu. 26 CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ. Mô phỏng và đánh giá về mặt thời gian.
Mô phỏng và đánh giá về mặt chất lượng. 36 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 37 v DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT Ký hiệu Đơn vị Ý nghĩa DBIM Distorted Born Iterative Method Số lượng máy phát Số lượng máy thu ℎ mm Là kích thước của một ô (pixel) N Số lượng ô (pixel) theo chiều dọc/ngang (⃑) m/s Vận tốc truyền sóng trong môi trường chuẩn (⃑) m/s Vận tốc truyền sóng trong đối tượng (⃑) ( / ) Hàm mục tiêu ( ⃑) Pa Sóng tới (tín hiệu tới) ( ⃑) Pa Tín hiệu tổng ( ⃑) Pa Tín hiệu tán xạ rad/m Số sóngtrong môi trường chuẩn rad/m Số sóng trong đối tượng kg.m-3 Mật độ của môi trường đồng nhất ( ⃗) kg.m-3 Mật độ trong đối tượng vi DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2. So sánh phương pháp tạo ảnh không có mật độ và có mật độ.
Kịch bản 1 mô phỏng hàm mục tiêu. err ứng với từng giá trị của x sau tổng số bước lặp là 4 (N1 = 14).1: err của DBIM qua từng bước lặp (N = 27). err của DBIM – Đề xuất qua từng bước lặp (N1 = 14,N2 = 27). 32 vii DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Hình 1.
Một ca siêu âm thai. Cấu tạo máy siêu âm bên ngoài (Máy siêu âm DC-70 Mindray). Đầu dò siêu âm. Ảnh hưởng trên mẫu áp suất tán xạ tương ứng với = 2% .2: Tái tạo DBIM của các đối tượng với những thay đổi về mật độ.3: Cấu hình hệ đo.
Kết quả mô phỏng xây dựng hàm mục tiêu lý tưởng. Kết quả khôi phục sau bước lặp đầu tiên (N = 18). Kết quả khôi phục sau bước lặp thứ 2 (N = 18). Kết quả khôi phục sau bước lặp thứ 3 (N = 18).
Kết quả khôi phục sau bước lặp thứ 4 (N = 18). Kết quả khôi phục sau bước lặp thứ 5 (N = 18). Kết quả khôi phục sau bước lặp thứ 6 (N = 18). Kết quả khôi phục sau bước lặp thứ 7 (N = 18).
Đồ thị biểu diễn mối liên hệ giữa số lần lặp x và sai số error (N1 =14). Kết quả khôi phục sau bước lặp đầu tiên (N1 = 14). Kết quả khôi phục sau bước lặp thứ 2 (N1 = 14). Kết quả khôi phục sau bước lặp thứ 3 (N1 = 14).
Kết quả khôi phục sau bước lặp thứ 4 (N1 = 14). Hàm mục tiêu lý tưởng (N = 27). Kết quả khôi phục sau bước lặp đầu tiên (N1 = 14, N = 27). Kết quả khôi phục sau bước lặp thứ 2 (N1 = 14, N = 27).
Kết quả khôi phục sau bước lặp thứ 3 (N1 = 14, N = 27). Kết quả khôi phục sau bước lặp thứ 4 (N1 = 14, N = 27). Kết quả khôi phục sau bước lặp thứ 5 (N1 = 14, N = 27). Kết quả khôi phục sau bước lặp thứ 6 (N1 = 14, N = 27).
Kết quả khôi phục sau bước lặp thứ 7 (N1 = 14, N = 27). Kết quả khôi phục sau bước lặp thứ 8 (N1 = 14, N = 27). Đồ thị biểu diễn mối liên hệ giữa số lần lặp x và sai số error (N=27). TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT 1.
Tổng quan về siêu âm cắt lớp 1. Siêu âm là gì? Siêu âm (Ultrasound/Sonography) – là một kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn, áp dụng phổ biến trong y tế, phương pháp tạo ảnh là sử dụng sóng siêu âm (sóng âm tần số cao) để xây dựng và tái tạo hình ảnh về cấu trúc bên trong cơ thể. Những hình ảnh này cung cấp thông tin có giá trị trong việc chẩn đoán và điều trị bệnh. Do hình ảnh siêu âm được ghi nhận theo thời gian thực nên nó có thể cho thấy hình ảnh cấu trúc và sự chuyển động của các bộ phận bên trong cơ thể kể cả hình ảnh dòng máu đang chảy trong các mạch máu.
Một ca siêu âm thai (Nguồn: http://choyte.com/sieu-am-la-gi-tong-quan-ve-nguyen-ly-hoat-dong-va-cau-tao-may- sieu-am-2024.htm ) + Ứng dụng của siêu âm: Siêu âm thường được sử dụng để : - Khảo sát các bộ phận, cơ quan trong cơ thể : Ổ bụng tổng quát, Sản khoa, Tim mạch, Phụ khoa, Tiết niệu, Tiền liệt tuyến, Tuyến giáp, Tuyến vú, Các bộ phận nhỏ, Cơ xương khớp, Tinh hoàn … - Siêu âm dẫn đường cho sinh thiết và hỗ trợ các kỹ thuật y học khác. + Nguyên lý hoạt động của siêu âm. Siêu âm dựa trên nền tảng là nguyên lý định vị bằng sóng siêu âm (sonar)-một kỹ thuật dùng để phát hiện các vật thể dưới nước. Trong khi siêu âm, bác sỹ sử dụng đầu dò (transducer) tỳ sát lên da, đầu dò có chức năng vừa phát vừa thu sóng siêu âm.
Khi siêu âm, các tinh thể bên trong đầu dò phát ra các sóng siêu âm truyền vào bên trong cơ thể. Các mô, xương và chất lỏng trong cơ thể - một phần hấp thụ hoặc truyền qua - một phần phản xạ lại sóng âm và quay ngược trở lại đầu dò. Đầu dò thu nhận sóng âm phản hồi, gửi các thông tin này tới bộ xử lý, sau khi phân tích các tín hiệu 2 phản hồi bằng các phần mềm và thuật toán xử lý ảnh, kết hợp các thông tin để xây dựng và tái tạo thành hình ảnh siêu âm mà chúng ta nhìn thấy trên màn hình. Cơ sở vật lý của siêu âm Cơ chế phát sóng âm: Sóng âm được tạo ra do chuyển đổi năng lượng từ điện thành các sóng phát ra từ các đầu dò, có cấu trúc cơ bản là gốm áp điện (piezo- electric).
Sóng âm thanh chỉ truyền qua vật chất mà không truyền qua được chân không, vì không có hiện tượng rung. Một trong những đặc điểm cơ bản nhất là tần số sóng âm phụ thuộc vào bản chất của vật có độ rung khác nhau. Đơn vị đo tần số là Hertz, tức là số chu kỳ dao động trong một giây. - Bản chất của Siêu âm : là các sóng âm dao động có tần số > 20.
Trong lĩnh vực Y tế người ta dùng sóng âm với tần số từ 2 MHz đến 20 MHz (1 MHz = 109 Hz) tùy theo yêu cầu thăm khám. Tính chất của Siêu âm: + Sự suy giảm và hấp thu: Trong môi trường có cấu trúc đồng nhất, sóng âm lan truyền theo đường thẳng, và bị mất năng lượng dần gọi là suy giảm. Sự suy giảm theo luật nghịch đạo của bình phương khoảng cách. Sự hấp thu quan trọng của năng lượng âm gặp vật chất tạo nhiệt.
Tuy nhiên sự mất năng lượng trong siêu âm không giống bức xạ tia X, vì ở đây còn có hiệu ứng quang từ hoặc hiệu ứng Compton. Vận tốc truyền sóng âm phụ thuộc vào độ cứng và tỷ trọng của môi trường vật chất xuyên qua, trong cơ thể người: mỡ 1450; nước 1480; mô mềm 1540; xương 4100 m/s. + Sự phản xạ hay phản hồi: Trong môi trường có cấu trúc không đồng nhất, một phần sóng âm sẽ phản hồi ở mặt phẳng thẳng góc với chùm sóng âm tạo nên âm dội hay âm vang (echo), phần còn lại sẽ lan truyền theo hướng của chùm sóng âm phát ra. Như vậy, ở đường ranh giới giữa hai môi trường có trở kháng âm (acoustic impedance), ký hiệu là Z, Z khác nhau tùy thuộc cấu trúc của vật chất đặc biệt là số nguyên tử.
Sóng phản hồi sẽ thu nhận bởi đầu dò, sau đó được xử lý trong máy và truyền ảnh lên màn hình (display), hoặc ghi lại trên phim, giấy in hoặc trên băng đĩa từ. Tất nhiên các sóng phản hồi không được thu nhận bởi đầu dò sẽ bị biến mất theo luật suy giảm. + Sự khúc xạ, nhiễu âm: Khi chùm sóng đi qua mặt phẳng phân cách với một góc nhỏ, chùm âm phát ra sẽ bị thụt lùi một khoảng so với chùm âm tới còn gọi là nhiễu âm. Chính điều này sẽ tạo ra ảnh giả.
Phân loại máy siêu âm Máy siêu âm được chia thành nhiều chủng loại khác nhau tùy vào hình dạng, công nghệ, phạm vi ứng dụng… 3 Theo hình dạng cấu trúc : máy siêu âm xe đẩy, máy siêu âm xách tay(để bàn), máy siêu âm cầm tay. Theo công nghệ : Máy siêu âm đen trắng, máy siêu âm màu, máy siêu âm Doppler, máy siêu âm 3D/4D. Theo phạm vi ứng dụng : Máy siêu âm tim mạch, máy siêu âm tổng quát, máy siêu âm sản/phụ khoa… 1. Cấu tạo máy siêu âm Các bộ phận của máy siêu âm : - Đầu dò : phát và thu nhận sóng siêu âm.
- Hệ thống xử lý tín hiệu (phần cứng + phần mềm) : xử lý các tín hiệu thu được từ đầu dò, tái tạo hình ảnh và hiển thị lên màn hình. - Hệ thống nhập liệu, tương tác : bao gồm bàn phím chức năng và trackball (hoặc màn hình cảm ứng - nếu có), sử dụng để nhập liệu bệnh nhân, lựa chọn thông số, chuyển đổi đầu dò… - Màn hình : hiển thị hình ảnh siêu âm sau khi xử lý (một số dòng siêu âm cao cấp có thêm màn hình cảm ứng để tăng tốc độ và khả năng tương tác trong quá trình siêu âm) - Máy in : in kết quả siêu âm (sử dụng máy in nhiệt hoặc máy in thông thường qua máy tính). Cấu tạo máy siêu âm bên ngoài (Máy siêu âm DC-70 Mindray) (Nguồn: http://choyte.com/sieu-am-la-gi-tong-quan-ve-nguyen-ly-hoat-dong-va-cau- tao-may-sieu-am-2024.htm ) Đầu dò siêu âm. Đầu dò (Transducer - Probe): làm nhiệm vụ vừa phát vừa thu sóng âm phản hồi.
Đầu dò bao gồm một hoặc nhiều miếng gốm áp điện (piezo-eletric), khi có dòng điện xoay chiều tần số cao kích thích vào miếng gốm này làm cho nó co giãn và phát ra xung siêu âm. Ngược lại khi miếng áp điện rung lên do sóng siêu âm dội trở về sẽ tạo ra một xung động.