Chương I: Tổng quan về truyền hình số mặt đất DVB-T 1.1 Lý do Việt Nam chọn hệ thống truyền hình số mặt đất DVB-T Có rất nhiều lý do để hệ thống truyền hình số mặt đất theo chuẩn DVB-T được chọn để triển khai tại Việt Nam. Hệ thống truyền hình số mặt đất phù hợp với địa hình có nhiều đồi núi của Việt Nam. Hệ thống truyền hình số mặt đất chuẩn DVB-T thích hợp với truyền hình tương tự hệ PAL hiện đang được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam. Điều này giúp tiết kiệm chi phí, có thể phát triển dựa trên nền tảng truyền hình tương tự.
Ngoài ra nó còn phù hợp với mạng lưới 220v, 50 Hz tại Việt Nam. Việt Nam là nước đang phát triển và trong xu thế hội nhập quốc tế. Việc triển khai hệ thống truyền hình số mặt đất theo chuẩn DVB-T giúp Việt Nam có thể thuận lợi trao đổi, tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong việc triển khai và sử dụng truyền hình số DVB-T từ rất nhiều nước đang sử dụng hệ truyền hình này. DVB-T phù hợp với dải băng tần 8 MHz đang được sử dụng tại Việt Nam và phù hợp với tiêu chuẩn phát số qua vệ tinh của châu Âu đang sử dụng tại Việt Nam (DVB-S).2 Các hệ thống truyền hình số quảng bá Có 3 loại truyền hình số quảng bá: Hệ thống truyền hình số hữu tuyến (truyền hình cáp) DVB-C Hệ thống cung cấp tín hiệu truyền hình số qua mạng cáp, sử dụng các kênh cáp có dung lượng 7 MHz đến 8 MHz và phương pháp điều chế 64 QAM.
DVB-C có mức SNR và điều biến kí sinh thấp. Tốc độ bit lớp truyền tải MPEG-2 tối đa 38,1 Mbps Hệ thống truyền hình số mặt đất DVB-T e 4 Hệ thống phát sóng số trên mặt đất DVB-T sử dụng độ rộng kênh 7-8 MHz, tốc độ dữ liệu cực đại từ lớp truyền MPEG-2 là 24b/s. Người ta sử dụng phương pháp điều chế số mã hóa ghép kênh theo tần số trực giao COFDM do sự truyền tải của hệ thống quảng bá truyền hình số trên mặt đất tương đối đặc biệt, có hiện tượng phản xạ tín hiệu nhiều lần, can nhiễu rất nghiêm trọng. Tín hiệu truyền dẫn được tổ chức thành các khung.
Mỗi khung gồm 68 symbol OFDM. Các symbol này có thể chứa dữ liệu thông tin tham chiếu. Hệ thống truyền hình số vệ tinh DVB-S Truyền hình vệ tinh là một phương pháp phủ sóng hiệu quả hơn so với các phương pháp khác. Do đặc điểm truyền dẫn tín hiệu qua vệ tinh là truyền dẫn tín hiệu trong tầm nhìn thẳng, hệ số định hướng của anten lớn, tín hiệu ít bị ảnh hưởng của phản xạ đa đường.
Tuy nhiên do công suất của vệ tinh là hữu hạn, đồng thời cự ly thông tin lớn, suy hao đường truyền rất cao, dễ bị ảnh hưởng bởi mưa vì vậy hiệu suất sử dụng băng thông không cao. Hệ thống DVB-S sử dụng phương pháp điều chế QPSK. Tốc độ bít chuyền tải là 38.3 Tiêu chuẩn DVB-T 1.1 Giới thiệu về truyền hình số mặt đất DVB-T [8] Việc phát triển tiêu chuẩn DVB-T vào đầu năm 1993 và tiêu chuẩn DVB-T đã được tiêu chuẩn hóa vào năm 1997 do Viện tiêu chuẩn truyền thông châu Âu (ESTI: European Telecommunication standards institute). Hiện nay tiêu chuẩn này đã được các nước châu Âu và các nước khác trên thế giới thừa nhận.
Năm 2001 đài truyền hình Việt Nam đã quyết định chọn nó làm tiêu chuẩn để phát sóng truyền hình mặt đất. DVB-T là sơ đồ truyền dựa trên tiêu chuẩn MPEG-2, là một phương pháp phân phối từ một điểm tới nhiều điểm video và audio số chất lượng cao có nén. Nó là sự thay thế có tăng cường tiêu chuẩn truyền hình quảng bá tương tự vì DVB cung cấp phương thức truyền dẫn linh hoạt để phối hợp video, audio và các dịch vụ dữ liệu. e 5 Trong truyền hình số mặt đất không thể sử dụng phương pháp điều chế đơn sóng mang được vì multipath (hiệu ứng đa đường) sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến chỉ tiêu kỹ thuật của truyền sóng mang đơn tốc độ cao vì lý do này OFDM đã được sử dụng cho tiêu chuẩn truyền hình mặt đất DVB-T.
Hệ thống truyền hình số mặt đất hoạt động trong kênh 6, 7 hoặc 8 MHz với ghép kênh COFDM, với 1705 sóng mang (2K hệ thống) hoặc 6817 sóng mang (8K hệ thống). Tốc độ có thể thay đổi từ 5 – 31. Hệ thống DVB-T cho phép phát sóng đồng thời lên tới 6 chương trình trên cùng một băng thông trên mặt đất. Các mã hóa kênh được thực hiện để giảm bớt ảnh hưởng của các kênh trên các tín hiệu phát sóng, do đó làm giảm số lượng các lỗi.1 Kiến trúc tiêu chuẩn của DVB Về điều chế, Digital Video Broadcasting cable (DVB-C) sử dụng điều chế 64- QAM, với sáu bit dữ liệu mỗi biểu tượng; Digital Video Broadcasting Satellite (DVB- e 6 S) sử dụng điều chế QPSK; sóng con truyền hình số hoạt động trên tần số lên đến 10 GHz ) làm cho việc sử dụnghệ thống phân phối đa kênh với 16,32 hoặc 64-QAM; và sóng con của truyền hình số hoạt động ở tần số trên 10 GHz sử dụng dịch vụ phân phối đa điểm với QPSK 1.2 Tiêu chuẩn nén MPEG-2 [13] Tiêu chuẩn The Moving Picture Experts Group Phase 2 (MPEG-2) – Định dạng âm thanh (audio), phim ảnh (video) MPEG-2 là một tiêu chuẩn cho truyền hình kỹ thuật số thuộc họ tiêu chuẩn MPEG dùng để mã hóa luồng dữ liệu âm thanh, phim ảnh, được phát triển bởi Nhóm chuyên gia mã hóa phim ảnh (Moving Picture Coding Experts Group – MPEG) thành lập năm 1988 với sự hợp tác của các tổ chức ISO (International Organization for Standardization – Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế) và IEC (International Electrotechnical Commission - Ủy ban Kỹ thuật điện tử quốc tế).
Đặc điểm kỹ thuật Tiêu chuẩn MPEG-2 là mở rộng của MPEG-1 cơ sở với mục tiêu cung cấp nén có chất lượng cao cho việc truyền phim ảnh, cụ thể là để tạo ra hình ảnh chất lượng cao hơn MPEG-1 ở tốc độ bít (bit rate) cao hơn (từ 3 - 10 Mbps), tuy nhiên tại tốc độ bít thấp (<1,5 Mbps), MPEG-2 chưa chắc đã cho chất lượng ảnh tốt hơn MPEG-1. Một số định dạng tệp tin MPEG-2 như (.m2v)… - Nén phim ảnh MPEG-2 Thuật toán nén phim ảnh MPEG-2 đạt tốc độ rất cao bằng cách khai thác các thông tin dư thừa trong phim ảnh. MPEG-2 loại bỏ cả sự dư thừa thời gian và dư thừa không gian xuất hiện trong phim ảnh chuyển động. Dư thừa thời gian (Temporal redundancy) phát sinh khi khung hình kế tiếp của phim ảnh hiển thị hình ảnh (image) của cùng một cảnh.
Nó có chung nội dung của một cảnh (scene) để giữ cố định hoặc để thay đổi một chút giữa khung hình kế tiếp. e 7 Dư thừa không gian (Spatial redundancy) xảy ra do các vùng (pat) của một bức ảnh (picture) (được gọi là pels) được nhân bản (với thay đổi rất nhỏ) trong một khung hình phim ảnh duy nhất. Rõ ràng, không phải lúc nào cũng có thể nén mọi khung hình của một đoạn phim ảnh (phim ảnh clip) với cùng mức độ - một số phần của một clip có thể có dư thừa không gian thấp (ví dụ như nội dung bức tranh phức tạp), trong khi một số phần khác có thể có dư thừa thời gian thấp (ví dụ như trình tự chuyển động nhanh). Do đó, các dòng phim ảnh đã nén sẽ có tốc độ bít biến đổi, phù hợp với tốc độ truyền.
Yếu tố chính để kiểm soát tốc độ truyền dẫn là đặt dữ liệu đã nén trong một bộ nhớ đệm theo thứ tự giảm dần. Nén có thể được thực hiện bằng cách loại bỏ một số thông tin có chọn lọc. Chúng ta có thể đảm bảo tốc độ bít mà vẫn đạt được hình ảnh có chất lượng tốt (suy giảm tối thiểu chất lượng hình ảnh) bằng cách bỏ bớt một số thông tin quá chi tiết và giữ lại các nội dung chính. Các hoạt động cơ bản của bộ mã hóa được thể hiện như hình dưới đây: Hình 1.2 Hoạt động cơ bản của bộ mã hóa MPEG-2 MPEG-2 bao gồm một loạt các cơ chế nén.
Do đó, một bộ mã hóa phải sử dụng cơ chế nén phù hợp nhất với một cảnh hoặc một chuỗi cảnh cụ thể. Nhìn chung, mức độ thích hợp của cơ chế nén được lựa chọn tỉ lệ thuận với chất lượng ảnh tại cùng một tốc độ bít truyền nhất định.2, nén Run-Length (nén loạt dài) e 8 là một hình thức nén dữ liệu rất đơn giản mà ở đó các chuỗi dữ liệu có giá trị giống nhau trong nhiều thành phần dữ liệu liên tiếp, được lưu trữ như một giá trị duy nhất thay vì nhiều giá trị. Trong thực tế, có nhiều bộ giải mã MPEG-2 khác nhau với nhiều tùy chọn kết nối, nhiều khả năng khác nhau (gồm cả khả năng xử lý phim ảnh chất lượng cao và khả năng xử lý khi gặp lỗi). - Nén âm thanh MPEG-2 MPEG-2 định nghĩa một cơ chế mã hóa âm thanh theo nhiều định dạng khác nhau tại các tốc độ bít khác nhau - Dữ liệu MPEG-2 MPEG-2 hỗ trợ truyền 2 loại dữ liệu: + Thông tin dịch vụ: Thông tin về phim ảnh, âm thanh và dòng dữ liệu được mang trên đường truyền MPEG-2 + Dữ liệu riêng tư: Thông tin cho một hoặc nhiều người dùng cụ thể (có thể là thiết bị thu) 1.3 Tổng quan kỹ thuật điều chế COFDM Kỹ thuật OFDM (viết tắt của Orthogonal frequency-division multiplexing) là một trường hợp đặc biệt của phương pháp điều chế đa sóng mang, trong đó các sóng mang phụ trực giao với nhau, nhờ vậy phổ tính hiệu ở các sóng mang phụ cho phép chồng lấn lên nhau mà phía thu vẫn có thể khôi phục lại tín hiệu ban đầu.
Sự chồng lấn phổ tín hiệu làm cho hệ thống OFDM có hiệu suất sử dụng phổ lớn hơn nhiều so với kỹ thuật điều chế thông thường. Ngày nay kỹ thuật OFDM còn kết hợp với phương pháp mã kênh sử dụng trong thông tin vô tuyến. Các hệ thống này còn được gọi COFDM (code OFDM). Trong hệ thống này tín hiệu trước khi được điều chế OFDM sẽ được mã kênh với các loại mã khác nhau nhằm mục đích chống lại các lỗi đường truyền.
Do chất lượng kênh (fading và SNR) của mỗi sóng mang phụ là khác nhau, người ta điều chế tín hiệu trên mỗi sóng mang với các mức điều chế khác nhau. e 9 COFDM có các ưu điểm Tăng hiệu suất sử dụng phổ tần bằng cách cho phép chồng lấp những sóng mang con.