CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ XÂY DỰNG KÈ VÀ VẤN ĐỀ ỔN ĐỊNH CỦA KÈ 1. Tổng quan về xây dựng kè bảo vệ bờ sông ở Việt Nam 1. Điều kiện tự nhiên của hệ thống sông, suối ở Việt Nam Việt Nam là quốc gia có hệ thống sông rạch dày đặc, phân bố khắp cả nước. Hiện nay, Việt Nam có tới 2.360 con sông, kênh lớn nhỏ với tổng chiều dài khoảng 41.900 km, nhưng mới quản lý và khai thác được 8.036 km, trong đó có 392 con sông, chảy liên tỉnh được đưa vào danh mục quản lý của Cục đường sông Việt Nam theo quyết định số 1989 ngày 1-11-2010 của Thủ tướng Chính phủ.
Trong đó, 191 tuyến sông, kênh với tổng chiều dài 6.734,6 km được xem là tuyến đường sông quốc gia. Tổng lưu lượng nước trung bình của các sông và kênh là 26. Trong đó, phần được sinh ra trên đất Việt Nam chiếm 38,5%; phần từ nước ngoài chảy vào Việt Nam chiếm khoảng 61,5%. Hệ thống sông Cửu Long chiếm 60,4%, hệ thống sông Hồng 15,1% và các con sông còn lại chiếm 24,5%.
3 dòng sông được xếp vào diện hung dữ nhất (tốc độ dòng chảy lớn nhất) là sông Hồng, sông Đà, sông Lô. Trong đó, lưu lượng của sông Hồng cao nhất vào tháng 8 là hơn 9. Nơi có mật độ sông thấp nhất là vùng Nam Trung Bộ. Khu vực đông bằng sông Hồng có mật độ 0.45km/km², khu vực đồng bằng sông Cửu Long có mật độ 0.
Hướng chảy của sông chủ yếu từ Tây sang Đông, từ Tây Bắc xuống Đông Nam, lòng sông dốc, tốc độ chảy tương đối lớn. Chế độ nước trên các con sông chia thành 2 mùa rõ rệt, đó là mùa lũ và mùa kiệt. Về mùa lũ, nước sông lên cao, nước chảy xiết, các sông thường mang một lượng lớn chất phù sa, bùn cát lại chảy trên một nền bồi tích rất dễ xói bồi nên quá trình xói lở - bồi đọng diễn ra liên tục theo thời gian và không gian. Sạt lở bờ diễn ra ở hầu hết các triền sông và ở hầu hết các địa phương có sông, không chỉ diễn ra vào mùa lũ mà còn vào mùa kiệt.
Đặc biệt trong những thập kỷ cuối của thế kỷ XX, hiện tượng sạt lở diễn ra với chu kỳ nhanh hơn, cường độ mạnh hơn, thời gian kéo dài hơn và có nhiều dị thường.1 Lược đồ các hệ thống sông lớn ở Việt Nam 1. Tình hình xây dựng kè bảo vệ bờ sông ở Việt Nam Do sông ngòi ở nước ta đa số là sông nhỏ, lại chảy trong địa hình dốc nên thường gây ra xói lở 2 bên bờ sông. Để đảm bảo an toàn cho các khu vực dân cư và vùng sản xuất, hệ thống kè được xây dựng tại các khu vực này. Kè là hạng mục công trình thường thấy ở các khu vực sông, hàng năm đều được nhà nước đầu tư tu sửa và xây mới.
Tùy vào hệ thống sông lớn hay nhỏ mà kè cũng được đầu tư xây dựng với quy mô tương ứng. Hầu hết các địa phương có sông lớn đều được đầu tư xây dựng kè, như hệ thống kè 2 bên bờ sông Cần Thơ với vốn đầu tư 1.000 tỷ đồng, dự án xây kè bờ sông Hồng đoạn phường Phúc Tân với số vốn 380 tỷ đồng, dự án kè bờ hữu sông Thái Bình với số vốn 338 tỷ đồng, dự án kè bờ hữu sông Mã với số vồn 20 tỷ đồng.Cùng với nguồn vốn ngân sách, hàng năm, Nhà nước cũng sử dụng các nguồn vốn vay từ các tổ chức như WB, vốn ODA để đầu tư xây dựng các hạng mục kè.2 Chống sạt lở bờ, ổn định lòng dẫn sông Thái Bình khu vực TP Hải Dương (báo XD) Hình 1.3 Dự án đê kè bờ hữu sông Mã ( báo VH&ĐS) Hình 1.4 Kè Thị xã Hội An bảo vệ cửa sông tỉnh Quảng Nam 16 Hình 1.5 Kè Đức Quang tỉnh Hà Tĩnh cửa sông Lam Hình 1.6 Kè Phong Vân – Ba Vì – Hà Nội 1. Điều kiện làm việc và yêu cầu kỹ thuật đối với kè ở khu vực tỉnh Nghệ An 1. Điều kiện tự nhiên khu vực tỉnh Nghệ An Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn nhất Việt Nam thuộc vùng Bắc Trung Bộ.
Phía Đông giáp biển, phía Tây giáp nước CHDCND Lào, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa. Nghệ An có 1 thành phố, 3 thị xã và 17 huyện. Trong đó, Thành phố Vinh là đô thị loại 1, là trung tâm kinh tế, văn hóa của tỉnh và của cả khu vực Bắc 17 Trung bộ. Tỉnh Nghệ An nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn, địa hình đa dạng, phức tạp và bị chia cắt bởi các hệ thống đồi núi, sông suối hướng nghiêng từ Tây - Bắc xuống Đông - Nam với ba vùng sinh thái rõ rệt: miền núi, trung du, đồng bằng ven biển.
Đỉnh núi cao nhất là đỉnh Pulaileng (2.711m) ở huyện Kỳ Sơn, thấp nhất là vùng đồng bằng huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành có nơi chỉ cao đến 0,2 m so với mặt nước biển (đó là xã Quỳnh Thanh huyện Quỳnh Lưu). Đồi núi chiếm 83% diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh. Tỉnh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sự tác động trực tiếp của gió mùa Tây - Nam khô và nóng (từ tháng 4 đến tháng 8) và gió mùa Đông Bắc lạnh, ẩm ướt (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau). Nhiệt độ trung bình hàng năm 23 - 24,20C.
Tổng lượng mưa trong năm là 1. Độ ẩm trung bình hàng năm 80-90%. Tổng số giờ nắng trong năm khoảng 1. Về thủy văn: Tỉnh Nghệ An có 7 lưu vực sông (có cửa riêng biệt) với tổng chiều dài sông suối trên địa bàn tỉnh là 9.828 km, mật độ trung bình là 0,7 km/km2.
Sông lớn nhất là sông Cả (sông Lam) bắt nguồn từ huyện Mường Pẹc tỉnh Xiêng Khoảng (Lào), có chiều dài là 532 km (riêng trên đất Nghệ An có chiều dài là 361 km), diện tích lưu vực 27.200 km2 (riêng ở Nghệ An là 15. Tổng lượng nước hàng năm khoảng 28.7 Bản đồ tự nhiên tỉnh Nghệ An 18 1. Tình trạng sạt lở bờ sông ở Nghệ An Nghệ An là tỉnh có điều kiện tự nhiên không mấy thuận lợi. Về địa hình, tỉnh có nhiều loại địa hình từ miền núi cao trải xuống đồng bằng ven biển.
Về khí hậu, tỉnh nằm trong vùng “nắng lắm, mưa nhiều”. Về mùa lũ, tỉnh thường xuyên hứng chịu những trận lụt, bão có sức tàn phá lớn, gây nên những trận lụt lịch sử. Kết hợp với địa hình lòng sông suối dốc, nước chảy xiết nên gây ra tình trạng sạt lở 2 bên bờ sông hết sức nghiêm trọng, đe dọa trực tiếp tới tính mạng và tài sản của nhân dân dọc theo 2 bên bờ sông. Sông Lam là con sông lớn nhất của tỉnh, là một trong hai con sông lớn nhất vùng Bắc Trung Bộ, bắt nguồn từ cao nguyên Xiengkhuang, Lào.
Phần chảy trên lãnh thổ Lào gọi là Nam Khan. Phần chính của dòng sông chảy qua Nghệ An, phần cuối của sông Lam hợp lưu với sông La từ Hà Tĩnh, tạo thành ranh giới của Nghệ An và Hà Tĩnh đổ ra biển tại cửa Hội. Cụ thể, trên lãnh thổ Việt Nam, nó chảy qua địa phận huyện Kì Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Đô Lương, Nam Đàn, giữa các huyện Thanh Chương, Hưng Nguyên, thành phố Vinh, Nghi Lộc của tỉnh Nghệ An rồi vào Đức Thọ, Nghi Xuân, thị xã Hồng Lĩnh của tỉnh Hà Tĩnh trước khi đổ ra vịnh Bắc Bộ. Tổng cộng các chiều dài của sông theo Bách khoa toàn thư Việt Nam là khoảng 512 km, đoạn chảy trong nội địa Việt Nam khoảng 361 km.
Tính trung bình của cả triền sông thì sông Lam nằm ở cao độ 294 m và độ dốc trung bình là 18,3%. Từ biên giới Việt-Lào đến Cửa Rào, lòng sông dốc nhiều với hơn 100 ghềnh thác, tổng lượng nước 21,90 km³ tương ứng với lưu lượng trung bình năm 688 m³/s và môđun dòng chảy năm 25,3 l/s. Lưu lượng trung bình mỗi năm tại Cửa Rào là 236 m³/s, tại Dừa: 430 m³/s. Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 11 cũng là mùa mưa, góp khoảng 74-80% tổng lượng nước cả năm.
Hiện nay, 2 bên bờ sông bị sạt lở trên toàn tuyến, nhiều nơi phạm vi sạt lở đã ảnh hưởng tới đất sản xuất của nhân dân, thậm chí có những nơi đã ảnh hưởng tới đất ở.8 Sạt lở bờ sông xã Hưng Hòa-Nghệ An Hình 1.Hưng Nguyên Hình 1.10 Sạt lở đê La Giang - HT Hình 1.Thanh Chương – Nghệ An 20 Hình 1.12 Sạt lở bờ sông Lam – huyện Đô Lương 1. Tình hình xây dựng kè và điều kiện làm việc của kè tại Nghệ An Nghệ An là tỉnh còn dựa nhiều vào nông nghiệp, nông thôn nên tình trạng sạt lở bờ sông, làm mất đất sản xuất của người dân rất được chính quyền và các ban, nghành quan tâm. Trong những năm qua, tỉnh đã được thụ hưởng nhiều dự án từ nhiều nguồn vốn khác nhau để phòng, chống tình trạng sạt lở bờ sông Lam. Các công trình thường là các công trình vừa và nhỏ, các tiểu dự án nhằm chống sạt lở bờ sông tại các vị trí xung yếu, các công trình mang tính chất khẩn cấp, thường tập trung ở các huyện Đô Lương, Thanh Chương, Nam Đàn, Hưng Nguyên và Nghi Lộc.
Các tiểu dự án này sử dụng vốn từ nguồn vốn xử lý khẩn cấp đê điều hàng năm, vốn duy tu, tu bổ, các nguốn vốn từ các tổ chức quốc tế như WB, JICA.13 Kè sông Lam tại Tp.Vinh 21 Sông suối ở Nghệ An có độ dốc lớn, về mùa hè thường có gió Tây Nam hoạt động mạnh nên ảnh hưởng rất lớn tới sự hình thành hiện tượng sạt lở cũng như điều kiện làm việc của kè. Độ dốc lớn dẫn đến lưu tốc dòng chảy lớn, trong nước thường chứa hàm lượng cát bụi cao nên khi chảy sẽ có khả năng lôi cuốn các thành phần hạt đất 2 bên bờ sông cao hơn, đẩy mạnh quá trình sạt lở. Gió Tây Nam hoạt động mạnh dẫn đến dòng nước mặt luôn có sự dao động mạnh. Gió Tây Nam ở Nghệ An thường được gọi là gió Lào hay gió “phơn” (hiện tượng foehn) là ngọn gió khô và nóng.
Gió thường xuất hiện từ đầu tháng Tư đến giữa tháng Chín, thường bắt đầu thổi từ 8-9 giờ sáng cho đến chiều tối, thổi mạnh nhất từ khoảng gần giữa trưa đến xế chiều. Gió khô và nóng, nên làm cho khí hậu trở nên khắc nghiệt. Độ ẩm có khi xuống 30% trong khi nhiệt độ có khi lên tới 43⁰C. Với bầu trời nắng chói chang, gió lại thổi đều đều như quạt lửa, tốc độ gió lớn nên sóng trên mặt sông luôn mạnh, vỗ mạnh vào bờ làm cho các vị trí sạt lở càng thêm nghiêm trọng.