Phần mở đầu: Tập trung làm rõ những lý do cơ bản để lựa chọn đề tài, tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, xác định rõ mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu của đề tài. Tổng quan về hệ thống thông tin sợi quang Chương này sẽ trình bày tổng quan về hệ thống thông tin quang. Trong đó, trình bày mô hình thông tin quang, các ưu điểm nhược điểm của hệ thống. Công nghệ truyền dẫn DWDM Trình bày chi tiết các thành phần cấu tạo nên hệ thống thông tin sợi quang DWDM.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu năng của hệ thống DWDM Phân tích các thông số ảnh hưởng đến chất lượng tín hiệu hệ thống thông tin quang DWDM Chương 4. Mô phỏng các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng truyền dẫn trong hệ thống quang Kết luận và kiến nghị e 5 7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Luận văn đã góp phần làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hệ thống DWDM, đặc biệt là các yếu tố phi tuyến ảnh hưởng đến hệ thống. Sự ảnh hưởng của hiệu ứng cộng bốn sóng đến hệ thống DWDM phụ thuộc vào các yếu tố công suất phát, diện tích vệt mode lazer, hệ số tán sắc màu, khoảng cách giữa các kênh.
Bên cạnh đó luận văn cũng đánh giá sự ảnh hưởng của nhiễu ASE tích lũy qua các bộ khuếch đại. Từ cơ sở nghiên cứu này kết hợp với các công trình nghiên cứu khác, ta có thể lựa chọn các thông số để thiết kế một hệ thống DWDM tối ưu. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN QUANG 1. Hệ thống thông tin quang điển hình Xã hội ngày càng phát triển, kèm theo đó là nhu cầu thông tin liên lạc là không thể thiếu.
Các dịch vụ như thoại, video call, truyền hình, trò chơi trực tuyến…ngày càng phổ biến. Nhu cầu về truyền dẫn tốc độ cao và lưu lượng lớn cho hệ thống để đáp ứng sự gia tăng của các dịch vụ là cần thiết. Sợi quang và các kỹ thuật trên sợi quang đã đáp ứng được vấn đề này. Cấu trúc của một mô hình hệ thống thông tin quang có thể mô tả đơn giản như hình 1.1, gồm 3 phần chính là: bộ phát quang, bộ thu quang và môi trường truyền dẫn là cáp sợi quang.
Cấu trúc đơn giản của hệ thống thông tin quang - Bộ phát quang E/O: có vai trò chuyển đổi tín hiệu điện thành tín hiệu quang và phát và sợi quang. Người ta thường gọi khối E/O này là nguồn quang. Hiện nay, linh kiện điện tử được sử dụng làm nguồn quang là LED và LASER. - Bộ thu quang O/E: có vai trò chuyển đổi tín hiệu quang thu được thành tín hiệu điện gốc giống với tín hiệu ở phía phát.
Các link kiện điện tử hiện nay thường được sử dụng để làm chức năng này là PIN và APD và chúng thường được gọi là linh kiện tách sóng quang. - Môi trường truyền tin: là cáp sợi quang Nếu cự ly truyền thông tin quá dài thì trên tuyến có thể lắp thêm một hoặc nhiều các bộ lặp tín hiệu. Cấu trúc đơn giản của một bộ lặp tín hiệu được minh họa ở hình 1. Cấu trúc đơn giản của bộ lặp tín hiệu Trạm lặp: khi truyền trên sợi quang, công suất của tín hiệu quang bị suy yếu dần (do có suy hao trên sợi quang).
Nếu cự ly truyền thông tin quá dài thì tín hiệu quang này có thể không đến được đầu thu hoặc đến đầu thu với công suất rất thấp và đầu thu không nhận dạng được tín hiệu, lúc này ta phải sử dụng các trạm lặp ở trên đường truyền. Chức năng chính của trạm lặp là thu nhận tín hiệu quang đã bị suy giảm, tái tạo chúng trở lại thành tín hiệu điện. Sau đó sửa dạng tín hiệu điện này, khuếch đại tín hiệu đã sửa dạng, chuyển đổi thành tín hiệu đã khuếch đại thành tín hiệu quang. Và cuối cùng đưa tín hiệu quang này lên đường truyền để truyền tải tiếp tới đầu thu.
Như vậy tín hiệu ở ngõ vào và ngõ ra của trạm lặp đều là tín hiệu quang và trong trạm lặp có cả khối chuyển đổi quang-điện và điện-quang. Cấu tạo sợi quang Ứng dụng hiện tượng phản xạ toàn phần, sợi quang được chế tạo cơ bản gồm có hai lớp: Lớp trong cùng có dạng hình trụ tròn, có đường kính d = 2a, làm bằng thủy tinh có chiết suất n1, được gọi là lõi (core) sợi. Lớp thứ hai cũng có dạng hình trụ bao quanh lõi nên được gọi là lớp bọc (cladding), có đường kính D = 2b, làm bằng thủy tinh hoặc plastic, có chiết suất n2< n1. Cấu trúc tổng quát này được minh họa ở hình 1.
Cấu trúc sợi quang Ánh sáng truyền từ đầu này đến đầu kia sợi quang bằng cách phản xạ toàn phần tại mặt ngăn cách giữa lõi-lớp bọc, và được định hướng trong lõi.4 Minh họa cơ chế ánh sáng lan truyền trong sợi quang. Ánh sáng truyền trong sợi quang 1. Phân loại sợi quang Có 3 loại cáp sợi quang cơ bản được sử dụng trong hệ thống thông tin quang: a) Sợi đơn mode chiết suất bậc Hình 1. Mô tả sợi quang đơn mode chiết suất bậc Sợi đơn mode chiết suất bậc cho phép chỉ một đường, hoặc mode cho ánh sáng đi qua sợi quang, được minh họa trong hình 1.
Các sợi đơn mode được sử dụng trong các ứng dụng mà trong đó yêu cầu suy hao tín hiệu thấp và yêu cầu tốc độ dữ liệu cao, như là trong các tuyến đường dài mà ở đó khoảng cách lặp hay là khuếch đại đạt được tối đa. Bởi vì sợi đơn mode cho phép chỉ một mode hay tia sáng để truyền (mode bậc thấp nhất), nó không bị tán sắc mode giống như sợi đa mode và vì thế có thể được sử dụng cho các ứng dụng băng rộng cao hơn. Tuy nhiên, thông thường sợi đơn mode không e 9 bị ảnh hưởng bởi sự tán sắc mode, ở tốc độ dữ liệu cao hơn sự tán sắc màu có thể giới hạn hiệu năng của đường truyền. Hạn chế chính của sợi đơn mode là tương đối khó khăn để làm việc vì kích thước lõi của nó nhỏ.
Sợi đơn mode được sử dụng chỉ với nguồn phát laser. b) Sợi đa mode chiết suất bậc Hình 1. Mô tả sợi đa mode chiết suất bậc Sợi đa mode chiết suất bậc có chiết suất khúc xạ biến đổi từ thấp- cao- thấp khi được tính từ lớp vỏ(cladding) – lõi(core) – vỏ(cladding). Thuật ngữ “đa mode” nói lên thực tế rằng có nhiều mode làm việc trong sợi quang.
Sợi đa mode chiết suất bậc được sử dụng trong các ứng dụng yêu cầu tốc độ bit thấp và băng rộng (< 1GHz) trên khoảng cách ngắn (<3 km) như là mạng nội bộ (LAN) hoặc 1 mạng đường trục cỡ nhỏ. Trong sợi đa mode chiết suất bậc, số mode 𝑀𝑛 truyền có thể được tính xấp xỉ là: 𝑀𝑛= 𝑉22 (1.3) Ở đây V được hiểu là tần số, hay V-number, liên quan đến kích thước sợi quang, chỉ số khúc xạ, và bước sóng. V-number được cho bởi phương trình sau: 𝑉= [2𝜋𝑎𝜆].5) Trong phương trình trên, a là bán kính lõi sợi quang, λ là bước sóng làm việc, N.A là khẩu độ số, 𝑛1 là chiết suất lõi, 𝑛2 là chiết suất lớp vỏ và Δ là chênh lệch chỉ số khúc xạ giữa lõi và vỏ. c) Sợi chiết suất giảm dần e 10 Hình 1.
Miêu tả sợi quang chiết suất giảm dần Sợi chiết suất giảm dần là một sự ràng buộc giữa thông số độ rộng lõi và khẩu độ số N.A của sợi đa mode và băng rộng cao hơn của sợi đơn mode. Với sự tạo thành của lõi mà chiết suất khúc xạ giảm xuống theo hình parabol từ trung tâm lõi đến vỏ, ánh sáng truyền qua trung tâm của sợi có chỉ số chiết suất cao hơn ánh sáng truyền trong các mode cao. Điều này nghĩa là các mode cao truyền nhanh hơn các mode thấp hơn, nó cho phép “rượt theo” tới các mode thấp, vì thế làm giảm số lượng của sự tán sắc mode, tức là làm tăng băng thông của sợi quang. Suy hao trên sợi quang Suy hao sợi quang thường được biểu diễn dưới dạng decibels (dB) và được tính tính bằng tỷ số giữa công suất cuối sợi quang P2 của sợi dẫn quang dài L (km) với công suất đưa vào sợi quang P1 như sau: P1 A(dB) 10 log (1.6) P2 Suy hao trong sợi quang cũng được biểu diễn là (dB/km), tức là suy hao trung bình trong sợi quang dài 1 kilomet.
Công suất quang trong các hệ thống sợi quang thường được biểu diễn là dBm, đó là do decibel được quy vào 1mW. Với công suất quang được biểu diễn là dBm, công suất lối ra mọi nơi trong hệ thống có thể được xác định đơn giản bởi biểu diễn công suất lối vào là dBm và trừ đi các thành phần suy hao riêng lẻ cũng được biểu diễn là dBm. Các nguyên nhân chính gây ra suy hao trong sợi quang là: - Do hấp thụ bởi vật liệu hay tạp chất cấu tạo nên sợi quang e 11 - Do tán xạ tuyến tính - Do bị uốn cong 1. Tán sắc trên sợi quang Trong quang học, sự tán sắc là hiện tượng mà vận tốc pha của sóng ánh sáng phụ thuộc vào tần số của nó hoặc là khi vận tốc nhóm phụ thuộc vào tần số.
Phương tiện truyền thông tin có một thuộc tính là thông số tán sắc, và gây ra nhiều ảnh hưởng khác nhau. Sự tán sắc đôi khi được gọi là sự tán sắc màu để nhấn mạnh tính chất phụ thuộc bước sóng của nó hoặc sự tán sắc vận tốc nhóm của nó để ám chỉ quy luật vận tốc nhóm. Sự tán sắc hầu như thường được miêu tả cho các sóng ánh sáng, nhưng nó có thể xảy ra cho nhiều loại sóng mà tương tác với môi trường hay truyền xuyên qua một môi trường từ tính không đồng đều, như là các sóng âm thanh. Sự tán sắc vật liệu được đo bởi số Abbe của nó V, với các số Abbe thấp tương ứng với sự tán sắc mạnh.
Sự tán sắc, được biểu thị bởi số hạng Δt, được định nghĩa như dải rộng xung trong sợi quang. Khi một xung ánh sáng truyền qua sợi quang, các yếu tố như là khẩu độ số, đường kính lõi, chỉ số khúc xa, bước sóng và độ rộng tia laser là nguyên nhân gây ra xung bị rộng ra. Sự tán sắc ảnh hưởng tới năng lực của hệ thống thông tin sợi quang được hiểu như là “nhiễu liên ký tự – intersymbol interference”, hình 1. Sự tán sắc làm xung bị rộng ra.