MỞ ĐẦU Việt Nam là nước có nền nông nghiệp phát triển, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng nông sản hàng hóa trên thị trường trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, tình trạng lạm dụng thuốc BVTV đem đến nhiều hệ lụy cho môi trường, sức khỏe cộng đồng, đe doa sự phát triển bền vững của nông nghiệp. Dư lượng thuốc BVTV trong đất sẽ rò rỉ ra sông ngòi theo các mạch nước ngầm hay do qua trình rửa trôi, xói mòn và phát tán ra môi trường nước. Vì vậy, việc tìm ra các biện pháp để xử lý ô nhiễm môi trường nước từ thuốc BVTV là van dé vô cùng cấp thiết và đang được quan tâm.
Trên thế giới, có nhiều phương pháp khác nhau đã được nghiên cứu dé xử lý hoá chất BVTV trong môi trường nước. Trong số đó, phương pháp oxi hoá tiên tiến (AOPs) sử dụng các vật liệu quang xúc tác bán dẫn được xem như một công nghệ tiềm năng dé loại bỏ thuốc trừ sâu trong nước. Ở điều kiện chiếu sáng phù hợp, vật liệu quang xúc tác bán dẫn có thé sản sinh ra các gốc tự do có tính oxi hoá mạnh như 'OH, ‘Ox tham gia vào quá trình phân huỷ triệt dé các chat 6 nhiễm hữu cơ thành các chất vô cơ ít độc hại như CO? và H20. Những nghiên cứu trước đây đã ứng dụng vật liệu xúc tác quang truyền thống (TiOa, ZnO,.) khá phố biến.
Tuy nhiên, nhược điểm của các vật liệu này có là độ rộng vùng cấm lớn (Evg > 3,0 eV) nên khả năng quang xúc tác thấp dưới ánh sáng mặt trời, chỉ hoạt động dưới bức xạ tử ngoại. Ngược lại, các vật liệu có độ rộng vùng cam hẹp có thể hoạt động tốt trong vùng ánh sáng khả kiến, tuy nhiên tốc độ tái tổ hợp nhanh của electron và lỗ trống quang sinh lại là một hạn chế của các vật liệu đơn này. Trong số các chất bán dẫn có độ rộng vùng cam hẹp, các hợp chất vonfram của kim loại chuyền tiếp (MWO¿) được thay là một vật liệu bán dẫn tiềm năng với độ rộng vùng cắm hẹp và có hoạt tính tốt trong vùng ánh sáng khả kiến. Bên cạnh đó, g-CạNa là chất bán dẫn nhận được nhiều sự quan tâm vì là loại vật liệu rẻ, độ bền cao, thân thiện với môi trường và có hoạt tính trong vùng ánh sáng khả kiến.
Dé cải thiện khả năng hoạt tính dưới vùng ánh sáng khả kiến và tăng khả năng phân tách của các điện tử, trong nghiên cứu này, chúng tôi tông hợp hệ vật liệu FeWO./rGO/g-C3Na@Fe3Ou. Trong đó, rGO đóng vai trò như một chất vận chuyên điện tử, hạn chế sự tái tổ hợp của electron và lỗ quang sinh, giúp nâng cao hoạt tính quang xúc tác của vật liệu. Mặt khác, dé cải thiện kha năng thu hồi vật liệu trong nước sau khi xử lý, thành phần Fe3O4 cũng được nghiên cứu đưa vao hệ vật liệu. Sau khi được tổng hợp, hoạt tính xúc tác của vật liệu sẽ được đánh giá dựa trên khả năng xử lý thuốc trừ sâu organophosphate (Diazinon) trong môi trường nước.
Giới thiệu chung về hệ vật liệu xúc tác quang dạng Z 1. Khái quát về quang xúc tác Vật liệu xúc tác quang là một vật liệu xúc tác hoạt động dưới tác dụng của ánh sáng kích thích dé làm tăng tốc độ các phản ứng hoá học. Khi vật liệu bán dẫn được chiếu sáng bằng ánh sáng có bước sóng phù hợp, phải bằng hoặc lớn hơn với năng lượng vùng cam cua chat bán dân, quá trình xúc tác quang sẽ xảy ra. Trong chất bán dẫn, các obitan được điền electron tạo thành một dải năng lượng liên tục gọi là vùng hoá tri (Valence band — VB).
Ngược lại, các obitan không được điền electron sẽ tạo thành vùng dẫn (Conduction band — CB). Khoảng trống nam giữa vùng hoá trị và vùng dẫn được gọi là vùng cam, tại đó không có obitan nao nên các điện tử không thé cư trú ở vùng câm. Khoảng cách giữa đáy vùng dẫn và đỉnh vùng hoá trị được gọi là độ rộng vùng cam, hay năng năng lượng vùng cam (Eg). Sản phẩm Quá trình khử Chất phản ứng Sản phẩm ht ht ht Qua trinh oxi hoa Chất phan ứng Hình 1.
Cơ chế vật liệu quang xúc tác hoạt động khi có ánh sáng kích thích [24] 1. Hệ vật liệu xúc tác quang dạng Z Những chất bán dẫn có năng lượng vùng cam từ 1,8 đến 2,8 eV có thé hap thụ và hoạt động tốt trong điều kiện ánh sáng khả kiến. Tuy nhiên, do khoảng cách giữa vùng hoá trị và vùng dân hẹp nên tôc độ tái tô hợp của các cặp electron và lỗ trống quang sinh nhanh, làm giảm hoạt tính quang xúc tác. Đây chính là nhược điểm lớn của loại vật liệu này.
Đề khắc phục nhược điểm này, các nhà nghiên cứu đã quan tâm và phát triển hệ xúc tác quang dạng Z trong thời gian gần đây. Hệ xúc tác quang dang Z có thé hoạt động tốt trong vùng ánh sáng khả kiến dé phân huỷ mạnh nhiều hợp chất hữu cơ thành các chất vô cơ vô hại. Một hệ xúc tác quang dạng Z lý tưởng là hệ xúc tác quang mà ở đó một chất bán dẫn có thế năng vùng hoá trị dương hơn thé oxi hoá của cặp HạO/*OH được kết hợp với một chất bán dẫn khác có thế năng vùng dan âm hơn thé khử của cặp O2/*Or. [3] Khi hệ xúc tác quang dạng Z được kích thích băng ánh sáng khả kiến, do có năng lượng vùng cam hẹp nên chất bán dẫn A va chất bán dẫn B đều có thé sinh ra các điện tử và lỗ trống.
Khi đó các điện tử cư trú trên vùng dẫn của chất bán dẫn A (chất có thé năng vùng dẫn thấp hơn) có thé dịch chuyên về vùng hoá trị của chất bán dẫn B. Quá trình dịch chuyên trên tương tự như chữ “Z”, làm tăng quãng đường di chuyén điện tử va hạn chế sự tái kết hợp các cặp điện tử và lỗ trống [43]. Dựa theo quãng đường dịch chuyền của các điện tử, các nhà khoa học đã đặt tên cho hệ là hệ xúc tác quang dạng Z. Thế năng vs NHE (pH=0) + on *Q,- Oz/“O; | -0,13 eV eh `“&- a 8: F1.
x at bán dan B H,O/OH | 2,8 ¢V ‘Chat bán dinA HO, C,H, “OH, CO,, H,O Hình 1, 2. Hệ xúc tác quang dang Z [3] Các điện tử cư trú trên vùng dẫn của chất bán dẫn B có thể khử oxi để tạo thành các gốc *Oo, còn các lỗ trống ở vùng hoá trị của chất bán dan A có thé oxi hoá rất lớn, nó không những có thể oxi hoá nước để tạo ra các gốc °OH, ma còn có thể trực tiếp oxi hoá mạnh các chất hữu cơ hấp phụ trên bề mặt vật liệu (nếu có) để phân huỷ và khoáng hoa chúng thành CO2, H2O và các hợp chất vô cơ ít độc hại. Sự di chuyển điện tử từ vùng dẫn của chất bán dan A đến vùng hoá trị của chất bán dan B là một quá trình hoàn toàn tự nhiên, do các điện tử có xu hướng di chuyên về nơi có điện thé dương hơn vi trí nó đang cư trú (Hình 1. Phản ứng cụ thé được trình bày như sau: Chat xúc tác quang + hv > e + h" h* + HO > HO’ + Ht e + O02 > Ox 2 ‘Ox + 2 H20 > H202 + 2 'OH + Or e + H202 > HO' +'OH 1.
Vat liệu g-CaNa 1. Đặc trưng tính chất và cấu trúc vật liệu Graphite carbon nitride, carbon nitride dang graphite (g-C3Na), là dạng hình thù 6n định nhất va là đối tượng được nghiên cứu phổ biến trong những năm gan đây cho các quá trình quang xúc tác. g-CạNa đầu tiên được tổng hợp bởi Berzelius và được Justus von Liebig đặt tên là “melon” [9]. Đến năm 1922, cấu trúc của các hợp chất này được nghiên cứu sâu hơn và được Franklin mô tả đầu tiên.
Ông đã giới thiệu khái niệm về “carbonic nitride” (C3N4) và đề xuất rằng CạNa có thé thu được như là sản phẩm khử độc tố cuối cùng của dãy ammono carbonic acid. Vào năm 1937, Pauling và Sturdivant đã đề xuất một đơn vị tri-s-triazine dé làm mô hình cầu trúc cơ bản của các hợp chất cao phân tử loại này. Trên cơ sở này, người ta cho rằng có lẽ không nên chỉ định một cấu trúc duy nhất cho melon vì nhiều khả năng nó là hỗn hợp của các polymer có kích thước và cau trúc khác nhau. Triazine (C3N3) được coi là các khối đơn vị cơ bản của g-C3Na (Hình 1.
Một đơn vị cau trúc khác là vòng tri-s-triazine (heptazine) (CøN;), các vòng tri-s-trazine này được hình thành từ các nguyên tử N liên kết ba (Hình 1. Thực nghiệm và lý thuyết đã chứng minh g-C›Na được tạo thành từ các đơn vị cau trúc tri-s-triazine ôn định hơn về mat năng lượng (30 kJ mol) so với g-CạNa được tạo thành từ các đơn vị cấu trúc triazine. Cau trúc vòng tri-s-triazine va độ ngưng tụ cao làm cho polymer có độ ôn định cao về nhiệt (lên đến 600°C trong không khi), bền về mặt hoá học (ví dụ: axit, bazơ và dung môi hữu cơ) và có một cau trúc điện tử hấp dẫn với năng lượng vùng cấm trung bình được ước tính khoảng 2,7 eV [59, 69]. (a) ye (b) i a 0 tản: Bì lớn wos SS | wwe N7>N7N is rt W} l*\ i” \ LÍ 5 pl ah | | 3 , NẦM \ NẦN | Aw ast ! N wes 8 ` Ss a \ wyhs cứPY N \ š 7 NHạ ‘i Sy Sy | ; Sy Sy } wan N I wy| “se ie ee age OO } ⁄ iO N HạNZ SN~ `NHạ tin WS Py Hình 1.
Thật vậy, nghiên cứu [77, 78] chi ra rang đã quan sát thấy được dong quang điện khi sử dụng g-C:Na dạng khối dưới ánh sáng khả kiến (A > 420 nm). Tính ôn định nhiệt và hoá học cao của carbon nitride giúp sự quang điện hoá của tế bảo carbon nitride có thể hoạt động ở điều kiện có oxygen. Ngoài ra, cấu trúc dải điện tử của g- C3Nq có thé được điều chỉnh tốt và cải thiện dòng quang điện bang cách biến tinh hình thái nano hoặc pha tap. Carbon nitride có mao quản trung bình (mpg-C3Na) có thé tăng cường khả năng hap thu ánh sáng do bề mặt lớn và hiệu ứng đa tán xạ làm tăng cường dòng quang điện.
Các biến tính khác bao gồm pha tạp và proton hoá cũng có thể làm tăng dòng quang điện [70, 77].4 mô tả thế năng vùng VB của mpg-C3N, là 1,4 eV vs. NHE, và vùng CB là -1,3 eV vs.