Chương 1 Khung quản lý dữ liệu đưa ra khái niệm chung về quản trị, quản lý dữ liệu. Mô tả các thành phần chính trong khung quản lý dữ liệu chung. Sau khi khảo sát hoạt động đơn vị thì đưa ra khung quản lý dữ liệu cho dữ liệu viễn thông. Các vấn đề, vướng mắc hay gặp phải trong việc quản lý dữ liệu.
Chương hai bắt đầu đi sâu hơn vào trong một những hợp 9 phần quan trọng nhất trong việc quản lý dữ liệu và quản lý an toàn thông tin. Đưa ra các khái niệm chính về an toàn thông tin dữ liệu. Đưa ra các phương pháp trong việc quản lý an toàn thông tin, mô tả chi tiết các hợp phần cần thực hiện khi thiết lập hệ thống quản lý an toàn thông tin tại đơn vị. Sau khi nghiên cứu phương pháp và đưa ra các phần chính cần thực hiện khi quản lý an toàn thông tin, dựa vào kết quả khảo sát tại đơn vị, luận văn tập trung đưa ra các giải pháp chính mà chưa được xây dựng, triển khai tại đơn vị hoặc việc triển khai tại đơn vị chưa được đầy đủ, hiệu quả.
Các giải pháp chi tiết này sẽ được đưa ra tại chương ba và đánh giá kết quả triển khai. KHUNG QUẢN LÝ DỮ LIỆU 1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ QUẢN LÝ DỮ LIỆU 1. Định nghĩa thông tin và dữ liệu Ngày nay, nhiều tổ chức nhận ra rằng dữ liệu là tài sản vô cùng quan trọng của doanh nghiệp.
Dữ liệu và thông tin có thể cung cấp cái nhìn sâu sắc về khách hàng, sản phẩm và dịch vụ của họ qua đó giúp doanh nghiệp đổi mới và đạt được mục tiêu chiến lược [1], [3]. Mặc dù thừa nhận là vậy nhưng rất ít tổ chức chủ động quản lý dữ liệu như một tài sản để khai thác giá trị liên tục từ dữ liệu của mình. Giá trị mang lại từ dữ liệu không phải một cách ngẫu nhiên mà nó là cả một quá trình xây dựng mục tiêu, chiến lược, kế hoạch, điều phối và có sự cam kết. Đòi hỏi cả việc quản trị và lãnh đạo.
Dữ liệu và thông tin không chỉ là tài sản của tổ chức mà tổ chức cần đầu tư vào việc quản trị dữ liệu, thông tin để có thể thu lợi trong tương lai. Dữ liệu và thông tin quan trọng thiết yếu đối với các tổ chức trong các hoạt động hàng ngày, được coi như “dòng máu của cuộc sống”, thậm chí là “dầu mỏ mới” của nền kinh tế thông tin. Do đó tổ chức phải quản trị nguồn dữ liệu để qua đó tăng khả năng ra các quyết định đúng căn cứ trên kết quả phân tích dữ liệu [3], [9]. Dữ liệu được hiểu là thông tin được lưu trữ dưới dạng số (mặc dù dữ liệu không giới hạn thông tin được số hóa hay được quản lý trên giấy hay trong các cơ sở dữ liệu).
Tuy nhiên, do ngày nay chúng ta có thể nắm bắt được rất nhiều thông tin điện tử, chúng ta gọi nhiều thứ là “dữ liệu”, những thứ mà trước đó không được coi là dữ liệu như: tên, địa chỉ, ngày sinh, những gì mọi người ăn trong bữa tối thứ bảy, cuốn sách hay được mua nhiều nhất [3], [9]. 10 Những sự kiện về hành vi con người được tổng hợp, phân tích và sử dụng để tạo ra lợi nhuận, cải thiện sức khỏe hoặc ảnh hưởng đến chính sách công. Thực tế tốn nhiều giấy mực để định nghĩa mối quan hệ giữa dữ liệu và thông tin. Dữ liệu được gọi “Nguyên liệu của thông tin – Raw material of information” và thông tin được gọi là “Dữ liệu trong một bối cảnh – Data in context”.1 biểu diễn tháp dữ liệu từ đáy tới đỉnh lần lượt sẽ là “Dữ liệu, Thông tin, Kiến thức và trên cùng là Trí tuệ - Data, Information, Knowledge and Wisdom)1.
Wisdom Knowledge Information Data Hình 1.1 Tháp dữ liệu Qua hình tháp ta có thể thấy dưới cùng là dữ liệu, dữ liệu là nền tảng cho thông tin, kiến thức và trí tuệ của tổ chức. Việc tổ chức có khai thác, sử dụng tối đa tri quản lý dữ liệu cho tốt. Tuy nhiên trong việc quản lý dữ liệu cho tổ chức còn tồn tại rất nhiều thách thức như dữ liệu được giả định đơn giản chỉ là tồn tại. Nhưng dữ liệu không chỉ tồn tại, dữ liệu được tạo ra.
Dữ liệu và thông tin là hai khái niệm đan xen và phụ thuộc với nhau. Dữ liệu là một dạng của thông tin và thông tin là một dạng của dữ liệu. Cả dữ liệu và thông tin đều cần phải được quản lý để đảm bảo có được chất lượng cao nâng cao tính tin cậy trong các kết quả phân tích dữ liệu. Quản lý dữ liệu Quản lý dữ liệu là sự phát triển, thực hiện và giám sát các kế hoạch, chính sách, chương trình và thực hành cung cấp, kiểm soát, bảo vệ và nâng cao giá trị của dữ liệu và tài sản thông tin trong suốt vòng đời của họ.
Quản lý dữ liệu chuyên nghiệp là bất kỳ người nào làm việc trong bất kỳ khía cạnh của quản lý dữ liệu (từ quản lý kỹ thuật của dữ liệu trong suốt vòng đời của nó để đảm bảo rằng dữ liệu được sử dụng đúng cách) để đáp ứng mục tiêu chiến 1 https://en.org/wiki/DIKW_pyramid 11 lược của tổ chức. Các chuyên gia quản lý dữ liệu đảm nhận nhiều vai trò, từ kỹ thuật (ví dụ, các quản trị cơ sở dữ liệu, quản trị mạng, lập trình viên) đến kinh doanh chiến lược (ví dụ, nhà chiến lược dữ liệu, cán bộ quản lý dữ liệu). Hoạt động quản lý dữ liệu trên phạm vi rộng bao gồm mọi thứ, từ khả năng đưa ra quyết định phù hợp về cách để có được giá trị chiến lược từ dữ liệu, để việc triển khai kỹ thuật và hiệu suất của cơ sở dữ liệu. Do đó quản lý dữ liệu đòi hỏi cả hai kỹ năng kỹ thuật và phi kỹ thuật.
Trách nhiệm quản lý dữ liệu phải được chia sẻ giữa các vai trò các bộ phận nghiệp vụ và bộ phận công nghệ thông tin để đảm bảo một tổ chức có dữ liệu chất lượng cao đáp ứng nhu cầu chiến lược của mình. Quản trị dữ liệu Quản trị dữ liệu là một khái niệm của quản lý dữ liệu liên quan đến khả năng cho phép một cơ quan, tổ chức bảo đảm rẳng chất lượng dữ liệu cao tồn tại trong suốt vòng đời hoàn chỉnh của dữ liệu. Các lĩnh vực trọng tâm của quản trị dữ liệu bao gồm tính khả dụng, khả năng sử dụng, tính nhất quán, tính toàn vẹn dữ liệu, bảo mật dữ liệu, thiết lập các quy trình để bảo đảm quản lý dữ liệu hiệu quả trong toàn bộ cơ quan, tổ chức. Người quản lý dữ liệu đóng vai trò bảo đảm các quy trình quản trị dữ liệu được tuân thủ, các hướng dẫn được thi hành và khuyến nghị cải tiến các quy trình quản trị dữ liệu [10].
Quản trị dữ liệu là tập hợp các quy trình, vai trò, chính sách, tiêu chuẩn và số liệu bảo đảm việc sử dụng thông tin hiệu lực và hiệu quả trong việc cho phép một tổ chức đạt được mục tiêu của mình. Nó thiết lập các quy trình và trách nhiệm bảo đảm chất lượng và bảo mật của dữ liệu được sử dụng trên toàn doanh nghiệp hoặc tổ chức. Quản trị dữ liệu xác định ai có thể thực hiện hành động nào, dựa trên dữ liệu nào, trong tình huống nào, sử dụng phương pháp nào [10], [11]. Quản trị dữ liệu xác định các quy tắc, ảnh hưởng và quy định cho dữ liệu để thiết lập xây dựng chính sách.
Các quy tắc và chính sách này thiết lập quyền quyết định cũng như các biện pháp kiểm soát đảm bảo an ninh, trách nhiệm và sự tin cậy. Quản trị không phải là hoạt động giám sát hàng ngày, mà là nền tảng vững chắc cho một hệ thống quản lý dữ liệu khả thi2. Quản trị dữ liệu có thể được định nghĩa là một cách tiếp cận có tổ chức để quản lý dữ liệu và thông tin được chính thức hóa thành một tập hợp các chính sách và 2 http://aita.vn/quan-tri-du-lieu-yeu-cau-can-thiet-trong-xay-dung-co-so-du-lieu 12 quy trình bao gồm toàn bộ vòng đời của dữ liệu, từ thu thập đến sử dụng, xử lý. Các bước chính để tạo ra một chương trình quản trị dữ liệu mạnh mẽ bao gồm: Xác định thẩm quyền ra quyết định mang tính tổ chức; xác định các tiêu chuẩn, chính sách dữ liệu và thủ tục để hướng dẫn các quy trình quản lý dữ liệu khác nhau, bao gồm an ninh dữ liệu và bảo vệ quyền riêng tư, kiểm soát chất lượng dữ liệu và các hoạt động phổ biến dữ liệu; thực thi các chính sách và thủ tục sau khi xây dựng; giám sát việc tuân thủ các tiêu chuẩn, chính sách và thủ tục đã được thiết lập.
Một chương trình quản trị dữ liệu bao gồm: Bảo vệ dữ liệu nhạy cảm; đánh giá lỗ hổng và quản lý rủi ro; thực thi các yêu cầu tuân thủ pháp luật, quy định, hợp đồng; xác định các bên liên quan cùng với các vai trò và trách nhiệm của họ và quản lý truy cập. Quản trị dữ liệu (Data Governance- DG) được định nghĩa là việc thực hiện các quyền và kiểm soát (hoạch định, giám sát và thực thi) trong việc quản lý dữ liệu. Tất cả các tổ chức đưa ra quyết định dựa trên dữ liệu, bất kể họ có chức năng quản trị dữ liệu chính thức hay không. Do vậy việc thiết lập mô hình quản lý dữ liệu trong tổ chức sẽ giúp cho tổ chức khai thác được tốt hơn, làm tăng lợi nhuận đem lại từ dữ liệu cho tổ chức đó.
Mục đích của quản trị dữ liệu là đảm bảo dữ liệu được quản lý đúng cách, theo các chính sách và thông lệ tốt nhất về quản lý dữ liệu. Nếu như quá trình quản lý dữ liệu là để đảm bảo tổ chức khai thác được giá trị từ các nguồn dữ liệu của mình thì việc quản trị dữ liệu tập trung vào làm thế nào để đưa ra quyết định dựa trên dữ liệu. Quản trị dữ liệu tập trung vào các phạm vi: Chiến lược; Chính sách; Tiêu chuẩn và chất lượng; Giám sát; Tuân thủ; Quản lý vấn đề; Các dự án quản lý dữ liệu; Định giá tài sản dữ liệu. Phân biệt quản lý và quản trị dữ liệu Quản trị dữ liệu thường bị nhầm lẫn với các thuật ngữ và khái niệm liên quan khác, bao gồm quản lý dữ liệu.
Quản lý dữ liệu đề cập đến việc quản lý các nhu cầu vòng đời dữ liệu đầy đủ của một tổ chức.