Chương 1, Chính phủ (2015), Nghị định 55/2015/NĐ-CP, theo đó các tổ chức thực hiện cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn là các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng. Chủ thể là bên vay được quy định tại Khoản 2 Điều 2, Chính phủ (2018), Nghị định 116/2018/NĐ-CP, đó là cá nhân và pháp nhân. Cá nhân là công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ, khả năng có quyền và có nghĩa vụ pháp lý, Pháp nhân bao gồm: Hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã trên địa bàn nông thôn hoặc tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp; Doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn nông thôn; Doanh nghiệp cung cấp vật tư nông nghiệp đầu vào cho sản xuất nông nghiệp và các Doanh nghiệp sản xuất, thu mua, chế biến, tiêu thụ các sản phẩm, phụ phẩm nông nghiệp. Việc xác định chủ thể của hoạt động cho vay là rất quan trọng vì nó xác tư cách của các bên khi ký kết hợp đồng.
Việc xác định đúng chủ thể còn có giá trị quyết định đến các nội dung khác của hợp đồng như: hạn mức cho vay, thời hạn cho vay, lãi suất… 1. Nội dung pháp luật hoạt động cho vay để phát triển nông nghiệp, nông thôn Hoạt động cho vay là một hiện tượng kinh tế khách quan, hiện tượng này xuất hiện khi xã hội loài người có sự tư hữu về tư liệu sản xuất có tình trạng tạm thừa và tạm thiếu vốn, thể hiện ý chí của người có tài sản đồng ý cho người khác sử dụng tài sản của mình trong một thời hạn nhất định đồng thời có lãi, dựa trên sự tín nhiệm lẫn nhau. Trải qua nhiều giai đoạn của lịch sử, hoạt động cho vay đã phát triển về nội dung, hình thức, chủ thể và trở thành một hoạt động kinh tế quan trọng, không còn là những mối quan hệ giữa các cá nhân, có tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh chính trị của một quốc gia vì vậy hoạt động cho vay đã 15 được pháp luật điều chỉnh. Hoạt động cho vay xuất hiện ở nhiều lĩnh vực từ nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, thương mại, tiêu dùng… mỗi lĩnh vực đều được điều chỉnh bởi các quy định pháp luật, đã tạo ra hành lang pháp lý nhằm đưa hoạt động này đi vào nề nếp, hiệu quả, đảm bảo sự minh bạch, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và cũng là điều kiện quan trọng để hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Theo Khoản 1, Điều 2, Ngân hàng Nhà nước (2016), Thông tư 39/TT- NHNN, ngày 30/12/2016, Quy định về hoạt động cho vay của TCTD, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, thì “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn là việc cấp tín dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của lĩnh vực này, được điều chỉnh bằng các văn bản quy phạm pháp luật và chỉ hình thành khi hội đủ các yếu tố về chủ thể và điều kiện vay. Qua từng giai đoạn, các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay để phát triển nông nghiệp, nông thôn có sự thay đổi phù hợp với yêu cầu phát triển của nền nông nghiệp và phát triển nông thôn. Từ Quyết định 67-QĐ/TTg đến Nghị định 41/2010/NĐ-CP, hoạt động cho vay được mở rộng về chủ thể vay vốn, lĩnh vực vay, mức cho vay cũng được nâng lên đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người vay không có tài sản bảo đảm.
Nghị định 55/2015/NĐ-CP có quy định về nội dung, đối tượng vay đã đáp ứng yêu cầu về vốn thực tế, sửa đổi bổ sung năm 2018, bằng Nghị định 116/2018/NĐ-CP, cụ thể: Các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, nông thôn sẽ được vay theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 9/6/2015 và Nghị định 116/2018/NĐ-CP ngày 7/9/2018, bao gồm các chi phí phát sinh phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh sản xuất kinh doanh sản phẩm nông nghiệp. Mức vay, nếu không có tài sản bảo đảm thì đối với các cá nhân và pháp nhân mức cho vay tối thiểu là 100 triệu đồng đến 03 tỷ đồng, tùy vào chủ thể vay và mục 16 đích vay. Các đối tượng khách hàng vay không có tài sản bảo đảm thì phải nộp cho TCTD giấy chứng nhận QSDĐ hoặc giấy xác nhận chưa được cấp giấy CN QSDĐ và đất không có tranh chấp do UBND xã xác nhận đồng thời chỉ được nộp ở một TCTD. Lãi suất, theo quy định tại Điều 10, Chính Phủ (2015) Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 9/6/2015, là lãi suất thỏa thuận giữa khách hàng và TCTD phù hợp với các quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong từng thời kỳ, ngoài ra các trường hợp khác như: chương trình tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo chỉ đạo của Chính phủ hoặc vay từ nguồn vốn của Chính phủ, các tổ chức cá nhân ủy thác thì sẽ có các quy định khác nhau.
Về thời hạn cho vay, được căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án, phương án sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ của khách hàng hoặc khả năng của TCTD để thỏa thuận thời gian vay, duy trì hạn mức tín dụng. Các quy định về điều kiện cho vay để phát triển nông nghiệp, nông thôn Hoạt động cho vay là một hoạt động pháp lý có điều kiện, là yếu tố quyết định để khách hàng có thể tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Ở mỗi TCTD có quy định các điều kiện vay phù hợp với mục đích vay, đối tượng khách hàng và hạn mức được giải ngân. Để phòng rủi ro, tại Điều 9, Ngân hàng Nhà nước (1992), Quyết định 42/QĐ/NH1 ngày 21/02/1992 có quy định là các tổ chức cá nhân vay vốn của các Ngân hàng phải mua bảo hiểm nhà nước.
Theo đó, Ngân hàng cho các tổ chức kinh tế vay vốn theo hợp đồng tín dụng trên cơ sở tính toán hiệu quả của các dự án đầu tư trung hạn, dài hạn theo những nội dung của quyết định này và các quy định trong chế độ thể lệ tín dụng hiện hành và các chủ thể trong hợp đồng vay vốn cần mua bảo hiểm Nhà nước. 17 Năm 1993, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định 14/NĐ-CP ngày 02/3/1993, Quy định về Chính sách cho hộ sản xuất vay vốn để phát triển nông - lâm - ngư - diêm nghiệp và kinh tế nông thôn. Theo quy định tại điều 6 của Nghị định 14, về điều kiện vay vốn, Ngân hàng và các TCTD phải căn cứ vào điều kiện kinh tế của từng loại hộ xin vay vốn để quy định mức độ và hình thức thế chấp, tín chấp hoặc bảo lãnh thích hợp. Đối với những hộ nông dân nghèo không có tài sản thế chấp thì có thể áp dụng hình thức tín chấp của UBND xã hoặc các tổ chức kinh tế - xã hội, các hội nghề nghiệp, nhóm liên gia, các đoàn thể quần chúng.
Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn các quy định về thế chấp, tín chấp, tạo thuận lợi cho các hộ nông dân vay vốn kịp thời vụ. Năm 2001, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định 1627/2001/QĐ- NHNN ngày 31/12/2001 về Quy chế cho vay đối với các TCTD đối với khách hàng, đã quy định về điều kiện vay của các cá nhân và pháp nhân là phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự; mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp; Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết; Có phương án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khả thi và có hiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật; Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Năm 2016, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định cụ thể về điều kiện vay vốn so với Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN, Thông tư 39/2016/TT-NHNN về cơ bản kế thừa quy định về điều kiện vay và có hai thay đổi sau đây: (i) Bỏ điều kiện quy định về tài sản bảo đảm tiền vay; (ii) Bổ sung thêm đối tượng cá nhân được vay vốn là cá nhân từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự. Về hồ sơ vay vốn, kế thừa quy định tại Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN, Thông tư 39/2016/TT-NHNN trao quyền cho TCTD hướng dẫn khách hàng cung cấp hồ sơ, tài liệu chứng minh đủ điều kiện vay vốn. Tuy nhiên, Thông tư 39/2016/TT-NHNN 18 đã bỏ yêu cầu khách hàng phải gửi giấy đề nghị vay vốn cho TDTD và đơn giản hóa phương án sử dụng vốn đối với hoạt động cho vay đời sống.
Theo các quy định về điều kiện cho vay để phát triển nông nghiệp, nông thôn, điều kiện vay trong một hợp đồng tín dụng là rất quan trọng, nếu người vay thỏa mãn được các điều kiện đặt ra thì hợp đồng mới được xác lập và có hiệu lực. Cụ thể, Khách hàng vay vốn phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện như sau: (i) Không phát sinh nợ nhóm 3 trở lên tại bất kỳ tổ chức tín dụng nào trong 02 (hai) năm gần nhất tính đến thời điểm vay vốn; (ii) Không có nợ nhóm 2 tại thời điểm vay vốn; (iii) Có dự án, phương án nuôi/trồng, sản xuất, kinh doanh hiệu quả; (iv) Có vốn tự có tham gia dự án, phương án; (v) Có tài sản bảo đảm. Đồng thời, đối tượng đi vay phải cung cấp cho TCTD các tài liệu chứng minh đủ điều kiện và các tài liệu khác do TCTD hướng dẫn. Việc quy định “điều kiện vay” là sự đảm bảo lợi ích, bảo toàn nguồn vốn và rộng hơn cũng là đảm bảo cho sự an ninh cho sự phát triển của nền kinh tế đất nước vì kinh doanh ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh đặc biệt có ảnh hưởng đến sự an toàn của nền kinh tế Quốc gia.