phần Mở đầu và Kết luận, luận án được chia làm năm chương. Chương một dé cập đến những vấn đề lý thuyết cơ bản như các thành phan 18 nghĩa, các phương pháp phan tích ngữ nghĩa, sắc thái ngữ nghĩa của các đơn vị từ vựng, từ đó đúc kết nên phương pháp nhận diện sắc thái ngữ nghĩa của các đơn vị từ vựng tiếng Việt. Dựa trên phương pháp nhận diện này, chương hai xác lập và miêu tả sắc thái ngữ nghĩa của hai tiểu loại danh từ đơn vị tiếng Việt (DTĐV không chất liệu và DTĐV chat liệu). Tương tự, chương ba phân loại các vi từ trạng thái tiếng Việt dựa trên sắc thái ngữ nghĩa của chúng kèm theo những miêu tả cụ thể.
Bên cạnh đó, chương này còn đề cập đến các vấn đề: 1. Sắc thái ngữ nghĩa của những từ láy xuất phát từ vị từ trạng thái và vai trò của các yếu tô cộng thêm vào vị từ trạng thái trong những kết hợp này. Mối quan hệ giữa ngữ âm và sắc thái ngữ nghĩa của những từ chỉ mức độ cao theo sau các vị từ trạng thái. Sắc thái ngữ nghĩa của những kết hợp giữa một vi từ trang thái và một từ chỉ hướng biểu thị một quá trình.
Cũng dựa trên phương pháp nhận diện sắc thái ngữ nghĩa đã đề cập ở chương một, chương bốn xác lập và miêu tả sắc thái ngữ nghĩa của các tiểu loại vị từ hành động tiếng Việt. Cuối cùng, từ góc độ ngữ nghĩa học dụng pháp, chương năm đi vào miêu tả sắc thái ngữ nghĩa của bốn loại phát ngôn cơ bản: khen ngợi, chê trách, chửi rủa, măng yêu trong tiếng Việt. Ngoài 194 trang chính văn, luận án dành gần 260 trang cho 5 phụ lục. 19 CHƯƠNG MỘT NHUNG VAN DE CHUNG 1.
Giới thiệu chung về tốt nghĩa, xấu nghĩa 1. Khái niệm tốt nghĩa, xấu nghĩa Có 3 loại sắc thái ngữ nghĩa cơ bản: tốt (hay tích cực), trung hoà và xấu (hay tiêu cực). The Dictionary of Historical and Comparative Linguistics đã định nghĩa sự biến đổi tốt nghĩa là “bất cứ sự thay đổi nào về ngữ nghĩa trong đó từ biểu thị một cái gì đó trang trọng hơn hay cao quý hơn so với trước đây [. Ngược lại là sự biến đôi xấu nghĩa.
Như vậy, tốt nghĩa hàm ý trang trọng, cao quý. còn xấu nghĩa mang hàm ý ngược lại. Từ pejorative vôn bắt nguồn từ từ Latin pejor có nghĩa là “tệ” (worse). The Encyclopedia of Language and Linguistics do R.
Asher chủ biên xem sự biến đổi tốt nghĩa là việc “mat đi những sự quy chiếu không hài lòng trong nghĩa của từ (trái với sự biến đổi xấu nghĩa).”? Như vậy, một từ hay một sự biểu đạt nào đó có thể xem là tốt nghĩa néu nó mang những hàm ý quy ước như: tích cực, tán thành, trân trong, ca tụng. và ngược lại, nếu nó có xu hướng tiêu cực, không tán thành, không trân trọng, coi thường. thì được xem là xấu nghĩa. Sắc thái ngữ nghĩa trung hoà dành cho các trường hợp không tốt nghĩa, cũng không xấu nghĩa.
Tốt nghĩa và xấu nghĩa mà chúng tôi muốn đề cập ở đây là tốt nghĩa và xâu nghĩa trên quan điểm ngôn ngữ học, trên bình diện người nói — người nghe chứ không phải trên quan điểm đạo đức học, thâm mỹ học, tâm lý học. > “any change in meaning in which a word comes to denote something grander or more elevated than formerly (. The opposite is pejoration” (Trask 2000: 17) * “Loss of an unpleasant reference in the meaning of a word. (Contrasts with deterioration)” (Asher 1994: 5091) 20 Chang hạn, trên quan điểm đạo đức học, những hành động như giét, bắn chết, đâm chết.
có thê được xem là tiêu cực, nhưng trên quan điểm ngôn ngữ học, chúng được xem là trung hoà về sắc thái ngữ nghĩa. Hay với kinh nghiệm bản thân, chúng ta luôn nghĩ rằng cao là tốt, thap là xấu. Thực tế là chúng ta dang dùng thước đo thâm mỹ dé đo giá trị tốt / xấu của từ. Với câu nói “Cô ấy rat cao.”, người nói đơn giản chỉ muốn miêu tả trang thái, tính chất của đối tượng được nói đến, hoàn toàn không bao hàm một lời khen tặng hay chê bai nào cả.
Điều này diễn ra tương tự trong trường hợp “Cô dy rất thấp. Nhưng với câu nói “Cô ấy cao lênh khênh.” hay “Cô ấy thấp chin.” thì rõ ràng đã xuất hiện một sự đánh giá tiêu cực. Trong tiếng Anh, chúng ta có thé nhận ra hai hệ thống từ vựng dùng dé chỉ những đối tượng giống nhau, một hệ thống được gọi là từ kiêng ky (taboo word) và một được gọi là uyên ngữ (euphemism). Nếu một số từ trong hệ thống từ kiêng ky mang nghĩa xấu thì những uyên ngữ tương đương của chúng lại mang nghĩa trung hoà và đây chính là một cách nói giảm nhẹ sắc thái ngữ nghĩa tiêu cực ở từ kiêng ky.
Chang hạn, nếu deaf (điếc) mang nghĩa xấu thì uyên ngữ tương đương của nó là hard of hearing (nghe khó khăn) lại mang nghĩa trung hoà. Tương tự, nếu the crippled (người qué) là từ kiêng ky với sắc thái ngữ nghĩa xấu thì uyên ngữ tương đương the handicapped (người khuyết tật) lại trung hoà về sắc thái ngữ nghĩa. Như vậy, việc từ nói về đối tượng nào trong hiện thực khách quan thì không quan trọng mà quan trọng là nói bang cách nao, thái độ của người nói ra sao. Sắc thái ngữ nghĩa của từ sản sinh từ đó.
Tốt nghĩa, xấu nghĩa dưới góc độ ngữ nghĩa học từ vựng và dưới góc độ ngữ dụng học Ở đây, chúng ta cần phân biệt hiện tượng tốt nghĩa, xấu nghĩa dưới góc độ ngữ nghĩa học từ vựng và dưới góc độ ngữ dụng học. Nếu tốt nghĩa và xấu 21 nghĩa được ký mã trong hệ thống từ vựng và không phụ thuộc vào tình huống phát ngôn thì có nghĩa nó đang được xem xét từ góc độ ngữ nghĩa học từ vựng. Nếu sắc thái ngữ nghĩa được xem xét có tính đến tình huống phát ngôn thì có nghĩa nó đang được xem xét từ góc độ ngữ dụng học. Một câu hỏi đặt ra là chúng ta có thé dùng chệch chuẩn các sắc thái ngữ nghĩa không, nghĩa là đặt một từ xấu nghĩa vào ngữ cảnh cần phải dùng từ tốt nghĩa và ngược lại.
Nếu có thé thì điều gì sẽ xảy ra? Chúng ta cùng xem tình huống sau đây: Một nhóm thực khách đang ăn tối tại một nhà hàng. Không may, nhà hàng phục vụ cho họ một món ăn quá mặn và họ không thích nó một chút nào. Một người đàn ông nói: “Món này đậm đà quá nhỉ?” Ö đây, người nói đã dùng một từ có sắc thái ngữ nghĩa tích cực (đậm đà) thay vì một từ có sắc thái ngữ nghĩa tiêu cực (mặn chat) đề nhận xét về món ăn đó. Rõ ràng là trong câu nói của người khách có hàm ý mia mai và đây chính là mục đích của anh ay khi dùng chệch chuẩn các sắc thái ngữ nghĩa.
Trường hợp nay thuộc phạm vi nghiên cứu của ngữ dụng học chứ không phải ngữ nghĩa học từ vựng. Như vậy, chúng ta hoàn toàn có thé dùng chệch chuẩn các sắc thái ngữ nghĩa với các mục đích tu từ khác nhau: mỉa mai, châm biếm, trêu đùa. Việc một từ có thể tham gia vào các ngữ cảnh cần đến các sắc thái ngữ nghĩa khác nhau không hề làm nó đánh mất đi sắc thái ngữ nghĩa của riêng mình mà ngược lại, càng khẳng định rõ ràng hơn sắc thái ngữ nghĩa của mình thông qua các sắc thái tu từ được tạo thành khi dùng chệch chuẩn. Sắc thái ngữ nghĩa của từ và quy trình xác lập sắc thái ngữ nghĩa của từ 1.
Sắc thái ngữ nghĩa của từ 1. Các thành phần nghĩa Nghia từ vung (lexical meaning) của một đơn vị từ vựng gồm ba thành 22 phần cơ bản: nghĩa miêu tả (descriptive meaning), nghĩa xã hội (social meaning) và nghĩa biểu cảm (expressive meaning). Bên cạnh đó, người ta thường hay nhắc đến một loại nghĩa được xem là loại nghĩa thêm vào — nghĩa liên tưởng (connotation). Nghĩa miêu tả và sự quy chiếu Nhiều người cho rằng nghĩa miêu tả chỉ tồn tại đối với những thực từ.
Tuy nhiên, theo Sebastian Löbner (2002), nếu nghĩa miêu tả của một thực từ (content word) là “một khái niệm dành cho các vật quy chiếu tiềm năng của nó”” thi những từ chức năng như đại từ (pronouns), mạo từ (articles). hay những hình thức ngữ pháp như thì (tense) (đối với ngôn ngữ biến hình) vẫn có nghĩa miêu tả, và ở đây, nghĩa miêu tả chính là “đóng góp của chúng vào nghĩa miêu tả của câu”. Chang hạn, nghĩa miêu tả của từ “méo” là một khái niệm dành cho tat cả các con mèo, những con thú nhỏ cùng họ với hồ báo thường được nuôi trong nhà dé bắt chuột. Trong khi đó, nghĩa miêu ta của từ “nhing” là một khái niệm biểu thị “một số lượng nhiều, không xác định”.
Và từ “những” này biểu hiện nghĩa miêu tả một cách cụ thé khi tham gia vào các câu cụ thé. Khi nhắc đến nghĩa miêu tả, người ta hay nhắc đến nghĩa sở thị (denotation hay denotative meaning). Sự phân biệt nghĩa miêu tả và nghĩa sở thị được Sebastian Löbner (2002) thể hiện qua SƠ đồ hình tam giác trong công trình của mình. Theo đó, nghĩa sở thị không có quan hệ trực tiếp với từ mà quan hệ gián tiếp thông qua nghĩa miêu tả.
Nói cách khác, chính nghĩa miêu tả đã quyết định nghĩa sở thị. > “The descriptive meaning of a content word is a concept for its potential referents.” (Löbner 2002: 23) “The descriptive meaning of a word or a grammatical form is its contribution to descriptive sentence meaning” (Löbner 2002: 24) biểu thi uyết định ee Nghia miéu ta —_/ Nghiaséthi Mot khái niệm ) NY Một phạm trù / —______— Một số tác giả xác định nghĩa sở thị trong quan hệ với nghĩa liên tưởng như phần nghĩa hạt nhân, cơ bản của từ (phần nghĩa mà chúng ta có thể tìm thay trong từ điển) và phần nghĩa thêm vào. Nghĩa xã hội và moi tương tác xã hội Nghĩa xã hội được xem là một trong những thành phần nghĩa chính yếu của nghĩa từ vựng song song với thành phần nghĩa miêu tả bên trên. Phần nghĩa này được hiểu là tất cả những sắc thái ngữ nghĩa do xã hội quy định, nghĩa là tính chất phù hợp hay không phù hợp với các chuân mực giao tiếp của xã hội.
Chang han, mặc dù cùng có chung một nghĩa miêu tả, nhưng hai từ phu nhân và vợ lại có nghĩa xã hội rất khác nhau. Từ phu nhân chỉ dùng dé chỉ vợ của những người có địa vị cao trong xã hội. Không ai dùng phu nhân để nói về vợ của một người bình thường, trừ khi có một hàm ý khác (trêu đùa, mia mai.