Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn (chuyên ngành Ngôn ngữ học, mã số 62 22 02 40) của nghiên cứu sinh Tăng Thị Tuyết Mai, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hoàng Dũng tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (bảo vệ năm 2017), tập trung giải quyết vấn đề "Tốt nghĩa và xấu nghĩa trong tiếng Việt". Trong hệ thống tiếng Việt, các biểu đạt tốt nghĩa (amelioratives) và xấu nghĩa (pejoratives) tồn tại phổ biến và phong phú (ví dụ: trắng hồng, trắng tươi đối lập với trắng hếu, trắng bệch, trắng nhợt). Tuy nhiên, sắc thái ngữ nghĩa của từ ngữ và phát ngôn không phải là một hiện tượng bất biến mà có sự vận động phức tạp giữa hệ thống từ vựng và hoạt động giao tiếp thực tế. Một từ tốt nghĩa như đẹp, tốt không phải lúc nào cũng dùng để khen (như trong phát ngôn: "Đẹp lắm đấy!"), và ngược lại, các từ ngữ thô tục, chửi rủa như "Thằng cha mày!", "Thằng chó!" lại có thể được dùng như một lời mắng yêu trong ngữ cảnh thân mật gia đình. Bên cạnh đó, các từ thuần Việt hoàn toàn trung hoà về nghĩa như đá, nước, núi, sông khi dùng làm tên riêng lại mang sắc thái kém trang trọng hơn hẳn so với các yếu tố Hán Việt đồng nghĩa như Thạch, Thuỷ, Sơn, Hà. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần một công trình khảo sát toàn diện, bao quát hiện tượng tốt nghĩa và xấu nghĩa ở cả hai bình diện: ngữ nghĩa học từ vựng và ngữ nghĩa học dụng pháp.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là miêu tả và phân tích có hệ thống hiện tượng tốt nghĩa và xấu nghĩa trong tiếng Việt theo quan điểm ngôn ngữ học đồng đại. Luận án cụ thể hóa thành các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu sau:

  1. Xây dựng cơ sở lý thuyết và quy trình phân tích sắc thái ngữ nghĩa của các đơn vị từ vựng tiếng Việt dựa trên phương pháp ngữ cảnh.
  2. Khảo sát, phân loại và miêu tả sắc thái ngữ nghĩa của ba bộ phận từ loại cơ bản trong tiếng Việt: danh từ đơn vị (DTĐV), vị từ trạng thái (VTTT) và vị từ hành động (VTHĐ).
  3. Xác lập cơ chế hình thành sắc thái tốt nghĩa, xấu nghĩa của phát ngôn và miêu tả sắc thái ngữ nghĩa của bốn loại phát ngôn mang tính đánh giá điển hình: khen ngợi, chê trách, chửi rủa và mắng yêu.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là sắc thái ngữ nghĩa tốt, xấu và trung hoà của ba tiểu loại từ vựng (danh từ đơn vị, vị từ trạng thái, vị từ hành động) và bốn loại phát ngôn (khen ngợi, chê trách, chửi rủa, mắng yêu). Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong tiếng Việt hiện đại nhìn từ góc độ ngôn ngữ học đồng đại, khảo sát các văn bản thành văn và ngữ liệu giao tiếp thực tế.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Hiện tượng tốt nghĩa (amelioration) và xấu nghĩa (pejoration) đã được giới ngôn ngữ học quốc tế quan tâm từ lâu. Trong truyền thống ngôn ngữ học lịch sử, tốt nghĩa và xấu nghĩa chủ yếu được nghiên cứu như các quá trình biến đổi ngữ nghĩa (semantic change) theo trục lịch đại qua hai cơ chế mở rộng nghĩa và thu hẹp nghĩa. Các công trình tiêu biểu theo hướng tiếp cận lịch đại gồm có: Introduction to Historical Linguistics (1972) của Anthony Arlotto, Historical Linguistics (1979) của Theodora Bynon, Historical Linguistics: An Introduction (1992) của Winfred Lehmann, Understanding Language Change (1994) của April M. McMahon, An Introduction to Historical Linguistics (1997) của Terry Crowley, Language History – An Introduction (2000) của Andrew L. Sihler, và An Approach to Semantic Change (2003) của Brian D. Joseph và Richard D. Janda. Nghiên cứu biến đổi hình thái mang tính xấu nghĩa trong từng ngôn ngữ cụ thể cũng được đề cập trong A History of the Spanish Language (2002) của Ralph Penny (về các hậu tố xấu nghĩa tiếng Tây Ban Nha như -aco, -ajo) hay Using Italian: A Guide to Contemporary Usage của J. J. Kinder và Vincenzo M. Savini (về các hậu tố tiếng Ý như -accio, -azzo).

Giai đoạn gần đây, xu hướng nghiên cứu chuyển mạnh sang góc độ ngữ nghĩa học và ngữ dụng học đồng đại, đặc biệt tập trung vào lớp từ xấu nghĩa và miệt thị/phỉ báng (slurs), tiêu biểu là công trình của Croom (2011). Tuyển tập hội thảo quốc tế Pejoration do Rita Finkbeiner, Jörg Meibauer và Heike Wiese chủ biên (2016) đã tập hợp 14 nghiên cứu chuyên sâu ở nhiều cấp độ ngôn ngữ:

  • Cấp độ ngữ âm và ngôn điệu: Walter Sendlmeier, Ines Steffen và Astrid Bartels với "Pejorative Prosody" chứng minh ngôn điệu tiêu cực mang giọng trầm, đơn điệu, chậm rãi hơn so với giọng cao, du dương của đánh giá tích cực.
  • Cấp độ hình thái và cú pháp: Antje Dammel và Olga Quindt nghiên cứu mô hình cấu tạo từ Ge-e và -(er)ei trong tiếng Đức; Daniel Gutzmann và Eric McCready bàn về lý thuyết nội dung biểu cảm (expressive content) của Potts (2005) qua bài "Quantification with Pejoratives"; Franz d’Avis nghiên cứu câu tổng loại trong "Pejoration, Normalcy Conceptions and Generic Sentences".
  • Cấp độ ngữ dụng và hành vi ngôn từ: Jörg Meibauer ("Slurring as Insulting"), Maria Paola Tenchini và Aldo Frigerio ("A Multi-act Perspective on Slurs"), Björn Technau ("The Meaning and Use of Slurs: An Account Based on Empirical Data"), Marta Dynel ("Pejoration via Irony and Sarcasm").
  • Ngôn cảnh và ngôn ngữ cụ thể: Heike Wiese và Nilüfer Taniş Polat nghiên cứu hiện tượng láy m- trong tiếng Đức đô thị; Rita Finkbeiner phân tích cấu trúc bla bla bla; Renate Fischer và Simon Kollien khảo sát ngôn ngữ ký hiệu; Hyun Jung Koo và Seongha Rhee nghiên cứu từ xấu nghĩa trong tiếng Hàn.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu đi trước chỉ chạm đến hiện tượng này trong phạm vi hẹp:

  • Nguyễn Ngọc Trâm (1991) khảo sát cấu trúc ngữ nghĩa của 19 nhóm vị từ tâm lý – tình cảm tiếng Việt, chỉ ra thành phần đánh giá tích cực / tiêu cực (như nhóm vui – buồn).
  • Chu Bích Thu (1996) phân tích ngữ nghĩa tính từ tiếng Việt hiện đại thành hai bộ phận: miêu tả và đánh giá, khái quát cấu trúc ba thành tố: (1) Thuộc tính tác động vào giác quan, (2) Gây cảm giác, (3) Đánh giá tác động do cảm giác gây nên.
  • Nguyễn Thị Bảo (2003) khảo sát từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Việt đối chiếu tiếng Anh, chỉ ra phần lớn tên con vật thiên về nghĩa tiêu cực do văn hoá quy định.
  • Tăng Thị Tuyết Mai (2010), trong luận văn thạc sĩ, đã khảo sát bước đầu hiện tượng tốt nghĩa và xấu nghĩa ở danh từ đơn vị và vị từ trạng thái.

Khoảng trống mà luận án tiến sĩ này giải quyết là: khắc phục tính đơn lẻ, cục bộ của các công trình đi trước; thiết lập một quy trình thực nghiệm có hiệu lực dựa trên ngữ cảnh để xác định sắc thái ngữ nghĩa; và mở rộng khảo sát có hệ thống trên ba lớp từ loại cơ bản cùng bốn loại phát ngôn điển hình của tiếng Việt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Luận án định vị khái niệm tốt nghĩa và xấu nghĩa thuần tuý trên bình diện ngôn ngữ học (quan hệ người nói – người nghe), hoàn toàn tách biệt với quan điểm đạo đức học hay thẩm mỹ học. Về mặt đạo đức, các hành động như giết, bắn chết, đâm chết là tiêu cực, nhưng về mặt ngôn ngữ học, chúng trung hoà về sắc thái ngữ nghĩa. Về mặt thẩm mỹ, người nói có thể coi cao là tốt và thấp là xấu, nhưng trong phát ngôn "Cô ấy rất cao" hay "Cô ấy rất thấp", từ ngữ hoàn toàn mang nghĩa miêu tả trung hoà; sắc thái tiêu cực chỉ xuất hiện khi dùng các từ kết hợp đánh giá như "cao lênh khênh" hay "thấp chũn".

Cơ sở phân tích ngữ nghĩa học từ vựng dựa trên mô hình các thành phần nghĩa của từ (Löbner 2002, Mikko Lehtonen 2000, Carter et al. 2001):

  • Nghĩa miêu tả (descriptive meaning) / Nghĩa sở thị (denotation): Khái niệm quy chiếu của từ, mang tính khách quan.
  • Nghĩa xã hội (social meaning): Sắc thái do chuẩn mực giao tiếp xã hội quy định (như sự phân biệt trang trọng / thân mật giữa phu nhân và vợ, hay các trợ từ ạ, ư, nhỉ, nhé).
  • Nghĩa biểu cảm (expressive meaning): Thể hiện cảm xúc, thái độ chủ quan của con người đối với sự vật (như xanh lè, hoặc sự phân biệt thái độ trân trọng giữa biếu, tặng với cho).
  • Nghĩa liên tưởng (connotation): Phần nghĩa bổ sung mang tính liên chủ quan của cả cộng đồng ngôn ngữ (như kiến liên tưởng đến "nhỏ", rồng, phượng liên tưởng đến điều tốt đẹp).

Sắc thái ngữ nghĩa của từ thuộc về nghĩa biểu cảm và nghĩa xã hội, đồng thời chịu sự chi phối của nghĩa liên tưởng.

Về bình diện ngữ dụng học, luận án sử dụng mô hình phân chia nghĩa phát ngôn của Allott (2010) và Grice (1957): nghĩa tường minh (explicit meaning) đối lập nghĩa hàm ẩn (implicit meaning); nghĩa tự nhiên (natural meaning) đối lập nghĩa không tự nhiên (nonnatural meaning); nghĩa của người nói (speaker meaning), nghĩa mã hoá ngôn ngữ (encoded meaning) và nghĩa suy ra (inferred meaning). Luận án xác lập các cơ chế tạo sắc thái ngữ nghĩa cho phát ngôn gồm:

  1. Cơ chế tiền giả định (Cao Xuân Hạo 2007): Bất chấp tiền giả định, phủ nhận tiền giả định, lợi dụng tiền giả định để thông báo ngầm.
  2. Cơ chế phương châm hội thoại (Grice): Bất chấp phương châm về lượng, chất, quan hệ, cách thức.
  3. Các cơ chế tu từ: So sánh, ẩn dụ, chơi chữ (nói lái).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp miêu tả ngôn ngữ: Sử dụng trọng tâm thủ pháp phân tích phân bố và thủ pháp sử dụng ngữ cảnh. Quy trình xác lập sắc thái ngữ nghĩa (STNN) của từ gồm ba bước:
    1. Thu thập ngữ cảnh: Tập hợp số lượng lớn ngữ cảnh chứa từ trong các văn bản thuộc nhiều phong cách chức năng.
    2. Phân loại ngữ cảnh: Nhóm các ngữ cảnh đồng loại tương ứng với từng nét nghĩa của từ.
    3. Phân tích nghĩa: Loại bỏ nghĩa không thường trực, xác định nghĩa cơ bản và đối chiếu khả năng kết hợp của từ để kết luận từ mang sắc thái ngữ nghĩa cố định trong toàn bộ ngữ cảnh hay biến đổi trong loạt ngữ cảnh nhất định.
  • Phương pháp thống kê ngôn ngữ: Thống kê số lượng các tiểu loại DTĐV, VTTT, VTHĐ theo từng nhóm sắc thái ngữ nghĩa (tốt, trung hoà, xấu) và khả năng kết hợp; thống kê khảo sát mối quan hệ giữa vỏ ngữ âm và sắc thái ngữ nghĩa của các từ chỉ mức độ cao đi sau vị từ trạng thái.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Nguồn từ điển: Nguồn ngữ liệu chính là Từ điển tiếng Việt (2002) do Hoàng Phê chủ biên, kết hợp cùng các từ điển từ đồng nghĩa, từ điển từ láy tiếng Việt.
  • Nguồn văn bản: Thu thập từ các văn bản thành văn và phát ngôn tự nhiên thuộc nhiều phong cách ngôn ngữ chức năng khác nhau (văn học, báo chí, khẩu ngữ). Luận án gồm 194 trang chính văn và gần 260 trang dành cho 5 phụ lục ngữ liệu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung

Chương 1 xây dựng khung lý thuyết nền tảng cho toàn bộ luận án. Tác giả phân biệt rõ ranh giới giữa việc xem xét tốt nghĩa/xấu nghĩa dưới góc độ ngữ nghĩa học từ vựng (sắc thái ngữ nghĩa được ký mã sẵn trong hệ thống từ vựng, độc lập với ngữ cảnh phát ngôn) và góc độ ngữ dụng học (sắc thái ngữ nghĩa gắn liền với tình huống phát ngôn cụ thể, cho phép hiện tượng dùng chệch chuẩn để tạo hiệu quả tu từ như mỉa mai, châm biếm, trêu đùa).

Quy trình phân tích ngữ cảnh được luận án hình thức hoá để phân loại đơn vị từ vựng tiếng Việt thành ba nhóm lớn trên trục ngữ nghĩa:

Nhóm sắc thái từ vựng Biểu hiện trong toàn bộ ngữ cảnh Biểu hiện biến đổi theo ngữ cảnh
Đơn vị tốt nghĩa Duy trì sắc thái tích cực trong mọi kết hợp (ví dụ: DTĐV trang) Biến đổi sắc thái trong một loạt ngữ cảnh nhất định
Đơn vị trung hoà về nghĩa Duy trì sắc thái trung tính trong mọi kết hợp Biến đổi thành xấu/tốt trong loạt ngữ cảnh nhất định (ví dụ: DTĐV mớ)
Đơn vị xấu nghĩa Duy trì sắc thái tiêu cực trong mọi kết hợp Biến đổi sắc thái trong một loạt ngữ cảnh nhất định

Ở bình diện phát ngôn, chương này phân tích chi tiết các cơ chế ngữ dụng:

  • Bất chấp tiền giả định: Dùng cặp xưng hô bố / con ngoài quan hệ ruột thịt để chửi bới, đe doạ thể diện ("Bố đây con!"), hoặc cố tình đảo vai để mỉa mai ("Mời bố vào nhà con thưa chuyện!").
  • Phủ nhận tiền giả định: Đưa ra nhận định phủ định nền tảng để chửi rủa gay gắt ("Nó có mẹ đâu mà dạy dỗ", "Nó có lương tâm đâu mà cắn rứt").
  • Lợi dụng tiền giả định để thông báo ngầm: Dùng phát ngôn "Anh ta mới vừa đi cai nghiện về đấy" để kích hoạt tiền giả định "Trước đây anh ta nghiện", ngầm thông báo đánh giá tiêu cực.
  • Bất chấp phương châm hội thoại: Vi phạm phương châm về lượng ("Chắc đầu bếp đã cho một kí muối vào đây" để chê mặn); vi phạm phương châm về chất (truyện ngắn Thịt người chết của Nguyễn Công Hoan viết "Vì mới chết lần này là lần đầu..."); vi phạm phương châm cách thức (lối nói lưỡng nghĩa trong truyện cười Đậu phụ cắn); vi phạm phương châm quan hệ (hỏi canh thế nào, chồng đáp "Em mới mua muối hả?").
  • Cơ chế tu từ: Ẩn dụ tên con vật mang định kiến văn hoá (rồng, phượng đối lập chó, bò, trâu, quạ); so sánh; chơi chữ và nói lái ("Càng hiện đại càng hại điện", "Thủ tục hành chính – hành là chính", "Việc đầu tiên là tiền đâu").

Chương 2: Tốt nghĩa và xấu nghĩa trong danh từ đơn vị tiếng Việt

Chương 2 tập trung vào danh từ đơn vị (DTĐV) – lớp từ biểu thị hình thức tồn tại của thực thể hoặc phân lập thực thể có kích thước xác định, đảm đương chức năng thành tố chính trong danh ngữ. Luận án phân tích hai đặc trưng khu biệt cốt lõi: tính đếm được (kết hợp với lượng từ mấy, từng, mỗi, một, vài, đôi, dăm, những) và tính đơn vị (kết hợp với phân lượng từ như nửa theo quan điểm của Diệp Quang Ban 1996 và Nguyễn Thị Ly Kha 2001, phân biệt với danh từ khối và danh từ chỉ chủng loại).

Luận án phân loại và khảo sát chi tiết hai tiểu loại: DTĐV không chất liệu và DTĐV chất liệu:

  • DTĐV tốt nghĩa: Khảo sát các đơn vị mang nghĩa tích cực trong toàn bộ ngữ cảnh (như từ trang khi kết hợp với cả yếu tố tốt nghĩa như hào kiệt, thục nữ, quân tử, nam nhi lẫn yếu tố trung hoà như thanh niên) và các đơn vị biến đổi sắc thái theo loạt kết hợp.
  • DTĐV trung hoà về nghĩa: Khảo sát các đơn vị trung tính trong toàn bộ ngữ cảnh (cái, chiếc, con...) và các đơn vị trung hoà nhưng biến đổi sắc thái trong ngữ cảnh đặc thù. Điển hình là từ mớ: mang nghĩa trung hoà khi chỉ đồ vật (mớ cá, mớ rau, mớ trâu cày, mớ dây, mớ khoai, mớ tóc), nhưng chuyển hoá mang sắc thái xấu nghĩa rõ rệt khi đi cùng danh từ chỉ người (mớ đàn ông, mớ đàn bà, mớ con gái, mớ người).
  • DTĐV xấu nghĩa: Khảo sát các đơn vị mang sắc thái tiêu cực trong toàn bộ ngữ cảnh và các đơn vị biến đổi sắc thái trong ngữ cảnh kết hợp.

Chương 3: Tốt nghĩa và xấu nghĩa trong vị từ trạng thái tiếng Việt

Chương 3 tiến hành khảo sát lớp vị từ trạng thái (VTTT) – lớp từ có khả năng kết hợp trực tiếp với các phụ từ chỉ mức độ (hơi, quá, rất ở phía trước; lắm, quá ở phía sau). Tác giả phân loại VTTT thành ba nhóm: VTTT tốt nghĩa, VTTT trung hoà về nghĩa và VTTT xấu nghĩa (trong toàn bộ ngữ cảnh hoặc biến đổi theo ngữ cảnh).

Bên cạnh việc phân loại, chương 3 giải quyết ba vấn đề ngữ nghĩa – ngữ âm chuyên sâu:

  1. Sắc thái ngữ nghĩa của kết hợp láy xuất phát từ vị từ trạng thái: Đánh giá sự biến đổi sắc thái và vai trò của các yếu tố phụ gia/căn tố trong việc tăng cường hay giảm nhẹ mức độ đánh giá.
  2. Mối quan hệ giữa vỏ ngữ âm và sắc thái ngữ nghĩa của các từ chỉ mức độ cao theo sau vị từ trạng thái: Khảo sát thống kê sự tương quan giữa các khuôn vần, thanh điệu của từ chỉ mức độ cực trị đối với tính chất tích cực hay tiêu cực của cấu trúc.
  3. Sắc thái ngữ nghĩa của kết hợp chứa vị từ trạng thái biểu thị một quá trình: Phân tích cấu trúc kết hợp giữa VTTT với các từ chỉ hướng để biểu đạt sự chuyển biến trạng thái theo hướng tích cực hoá hoặc tiêu cực hoá.

Chương 4: Tốt nghĩa và xấu nghĩa trong vị từ hành động tiếng Việt

Chương 4 khảo sát vị từ hành động (VTHĐ) – nhóm từ có khả năng kết hợp với các từ chỉ thời-thể (đã, đang, sẽ, sắp, lại, vừa, cứ... ở phía trước; xong, rồi, mãi... ở phía sau).

Luận án phân tích sắc thái ngữ nghĩa của VTHĐ qua các nhóm:

  • VTHĐ tốt nghĩa: Gồm VTHĐ tốt nghĩa trong toàn bộ ngữ cảnh và VTHĐ tốt nghĩa biến đổi sắc thái trong loạt ngữ cảnh nhất định.
  • VTHĐ trung hoà về nghĩa: Gồm VTHĐ trung hoà trong toàn bộ ngữ cảnh và VTHĐ trung hoà biến đổi sắc thái khi tham gia vào các khung kết hợp mang tính tiêu cực hoặc tích cực.
  • VTHĐ xấu nghĩa: Gồm VTHĐ xấu nghĩa trong toàn bộ ngữ cảnh và VTHĐ xấu nghĩa biến đổi sắc thái trong loạt ngữ cảnh nhất định.

Chương 5: Tốt nghĩa và xấu nghĩa trong phát ngôn khen ngợi, chê trách, chửi rủa, mắng yêu

Chương 5 chuyển hoàn toàn sang bình diện ngữ nghĩa học dụng pháp, miêu tả chi tiết bốn hành động ngôn từ đánh giá trong giao tiếp tiếng Việt dựa trên sự tương tác giữa tầng nghĩa tường minh và tầng nghĩa hàm ẩn:

  • Phát ngôn khen ngợi:
    • Khen ngợi có nghĩa tường minh tích cực ("Con giỏi lắm!" khi con đạt điểm cao).
    • Khen ngợi có nghĩa tường minh trung hoà.
    • Khen ngợi có nghĩa tường minh tiêu cực (lối khen gián tiếp, nghịch ngữ).
  • Phát ngôn chê trách:
    • Chê trách có nghĩa tường minh tiêu cực.
    • Chê trách có nghĩa tường minh trung hoà ("Em mới mua muối hả?").
    • Chê trách có nghĩa tường minh tích cực ("Con giỏi lắm!" khi con đánh nhau với bạn; "Món này đậm đà quá nhỉ?" khi thức ăn quá mặn).
  • Phát ngôn chửi rủa:
    • Chửi rủa có nghĩa tường minh tiêu cực.
    • Chửi rủa có nghĩa tường minh trung hoà.
    • Chửi rủa có nghĩa tường minh tích cực.
  • Phát ngôn mắng yêu:
    • Hiện tượng sử dụng các biểu thức ngôn từ có nghĩa tường minh tiêu cực, thậm chí là từ chửi thề ("Thằng cha mày!", "Thằng chó!") nhưng mang nghĩa hàm ẩn biểu đạt tình cảm yêu thương, âu yếm trong quan hệ gia đình thân mật (lời bà nói với cháu nhỏ).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án đã khái quát và xây dựng một quy trình phân tích sắc thái ngữ nghĩa dựa trên ngữ cảnh (gồm ba bước: thu thập ngữ cảnh, phân loại ngữ cảnh đồng loại, phân tích tách nghĩa và đối chiếu khả năng kết hợp), cung cấp một công cụ thao tác chuẩn xác để xác định sắc thái ngữ nghĩa của các đơn vị từ vựng tiếng Việt.
  2. Thiết lập cơ chế tạo sinh sắc thái ngữ nghĩa tốt, xấu của phát ngôn dưới góc độ ngữ dụng học, kết hợp đồng bộ giữa lý thuyết phân tầng nghĩa (nghĩa tường minh, hàm ẩn, nghĩa người nói, nghĩa quy ước), cơ chế tiền giả định, phương châm hội thoại và các biện pháp tu từ học (ẩn dụ, hoán dụ, chơi chữ).

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Miêu tả toàn diện, có hệ thống bức tranh sắc thái ngữ nghĩa của ba bộ phận từ loại tiếng Việt (danh từ đơn vị, vị từ trạng thái, vị từ hành động) và bốn loại phát ngôn đánh giá điển hình (khen ngợi, chê trách, chửi rủa, mắng yêu) trên bình diện ngôn ngữ học đồng đại.
  2. Cung cấp nguồn tư liệu và căn cứ ngữ nghĩa học hữu ích cho công tác biên soạn từ điển tiếng Việt, giúp tường minh hoá các ghi chú về sắc thái biểu cảm và phạm vi kết hợp của từ.
  3. Hỗ trợ thiết thực cho việc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài trong việc giải thích và hướng dẫn sử dụng các lớp từ ngữ tinh tế, phức tạp, dễ nhầm lẫn cũng như các hiện tượng dụng học đặc thù của văn hoá giao tiếp người Việt.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt phạm vi, luận án giới hạn đối tượng khảo sát ở ba tiểu loại từ vựng (danh từ đơn vị, vị từ trạng thái, vị từ hành động) và bốn hành động ngôn từ cụ thể (khen ngợi, chê trách, chửi rủa, mắng yêu) trong tiếng Việt đồng đại. Nhiều lớp từ loại khác có biểu hiện ngữ nghĩa phức tạp (như danh từ khối, đại từ, các loại phụ từ và trợ từ) chưa được bao quát toàn diện trong khuôn khổ công trình.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng phương pháp phân tích ngữ cảnh để xử lý sắc thái ngữ nghĩa của toàn bộ hệ thống từ loại tiếng Việt; đồng thời mở rộng nghiên cứu ngữ dụng học sang các hành vi ngôn từ khác như cảm ơn, xin lỗi, đe doạ, khuyên can hoặc tiến hành đối chiếu liên ngôn ngữ và liên văn hoá trên diện rộng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị cao đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Việt ngữ học trong việc tiếp cận phương pháp phân tích ngữ nghĩa dựa trên ngữ cảnh và phân tích ngữ dụng học cấu trúc phát ngôn.
  • Các nhà biên soạn từ điển học trong việc xác định chính xác sắc thái ngữ nghĩa và quy tắc kết hợp cú pháp - ngữ nghĩa của các đơn vị từ vựng tiếng Việt.
  • Giáo viên giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ, đặc biệt trong việc hướng dẫn người học phân biệt sắc thái tinh tế giữa các từ đồng nghĩa/gần nghĩa và nắm bắt quy tắc sử dụng phát ngôn phù hợp với ngữ cảnh văn hoá Việt Nam.

Phần đáng tham khảo nhất trong luận án là hệ thống phương pháp xác lập sắc thái ngữ nghĩa bằng ngữ cảnh ở Chương 1, các bảng phân loại chi tiết ba lớp từ loại ở Chương 2, 3, 4 cùng các phân tích ngữ dụng sâu sắc về bốn hành vi phát ngôn ở Chương 5.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt sắc thái ngữ nghĩa ngôn ngữ học với đánh giá đạo đức học và thẩm mỹ học như thế nào?
Luận án xác định sắc thái tốt/xấu thuần tuý trên bình diện quan hệ ngôn ngữ người nói – người nghe. Những từ ngữ chỉ hành vi tiêu cực về mặt đạo đức như giết, bắn chết, đâm chết là trung hoà về sắc thái ngôn ngữ học. Tương tự, quan niệm thẩm mỹ xem cao là tốt và thấp là xấu không quyết định sắc thái từ vựng; các từ cao, thấp trong phát ngôn miêu tả ("Cô ấy rất cao/thấp") hoàn toàn trung hoà, chỉ khi kết hợp thành "cao lênh khênh" hay "thấp chũn" mới mang sắc thái xấu nghĩa.

2. Quy trình xác lập sắc thái ngữ nghĩa của từ dựa vào ngữ cảnh gồm những bước nào?
Quy trình gồm ba bước: (1) Thu thập số lượng lớn ngữ cảnh chứa từ trong các phong cách ngôn ngữ khác nhau; (2) Phân loại ngữ cảnh thành các nhóm đồng loại tương ứng với từng nét nghĩa; (3) Phân tích nghĩa bằng cách loại bỏ nghĩa không thường trực, xác định nghĩa cơ bản và đối chiếu khả năng kết hợp để kết luận từ mang sắc thái tốt, trung hoà hay xấu (trong toàn bộ ngữ cảnh hoặc biến đổi theo loạt ngữ cảnh nhất định).

3. Hiện tượng biến đổi sắc thái ngữ nghĩa theo ngữ cảnh ở danh từ đơn vị được chứng minh qua ví dụ nào?
Điển hình là danh từ đơn vị mớ. Trong hầu hết các ngữ cảnh chỉ đồ vật (mớ cá, mớ rau, mớ khoai, mớ dây, mớ tóc), mớ hoàn toàn trung hoà về nghĩa; nhưng khi đi vào loạt ngữ cảnh kết hợp với danh từ chỉ người (mớ đàn ông, mớ đàn bà, mớ con gái, mớ người), từ này biến đổi sang sắc thái xấu nghĩa rõ rệt.

4. Cơ chế tiền giả định tạo ra sắc thái tiêu cực trong phát ngôn tiếng Việt hoạt động ra sao?
Người nói có thể: (1) Bất chấp tiền giả định bằng cách đổi vai xưng hô ("Mời bố vào nhà con thưa chuyện!") hoặc dùng từ xưng hô gia đình ngoài xã hội trong lúc xung đột ("Bố đây con!"); (2) Phủ nhận tiền giả định để chửi bới nặng nề ("Nó có mẹ đâu mà dạy dỗ"); (3) Lợi dụng tiền giả định để thông báo ngầm ("Anh ta mới vừa đi cai nghiện về đấy" nhằm kích hoạt tiền giả định tiêu cực).

5. Luận án giải thích hiện tượng "mắng yêu" dưới góc độ ngữ dụng học như thế nào?
Mắng yêu là hiện tượng phát ngôn có nghĩa tường minh tiêu cực (sử dụng từ ngữ thô tục, mang tính chửi rủa như "Thằng cha mày!", "Thằng chó!"), nhưng trong ngữ cảnh giao tiếp cụ thể mang tính thân mật cao (như lời người bà nói với đứa cháu nhỏ), nghĩa hàm ẩn của phát ngôn lại biểu đạt tình cảm yêu thương, âu yếm, xoá bỏ hoàn toàn sắc thái xúc phạm của nghĩa mã hoá từ vựng.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Tăng Thị Tuyết Mai là một công trình nghiên cứu hệ thống và nhất quán về hiện tượng tốt nghĩa và xấu nghĩa trong tiếng Việt trên lập trường ngôn ngữ học đồng đại. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa ngữ nghĩa học từ vựng và ngữ nghĩa học dụng pháp, tác giả đã xây dựng thành công quy trình phân tích sắc thái ngữ nghĩa dựa trên ngữ cảnh và mô hình hoá các cơ chế sản sinh nghĩa đánh giá của phát ngôn. Kết quả miêu tả chi tiết trên ba lớp từ vựng (danh từ đơn vị, vị từ trạng thái, vị từ hành động) và bốn loại phát ngôn (khen ngợi, chê trách, chửi rủa, mắng yêu) mang lại giá trị lý luận và thực tiễn vững chắc cho nghiên cứu Việt ngữ học và giảng dạy tiếng Việt.