CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN DI ĐỘNG 1.1 Giới thiệu: GSM (Global System for Mobile Communications) là mạng thông tin di động tòan cầu. GSM được xây dựng và đưa vào sử dụng đầu tiên bởi Radiolinja ở Phần Lan. Vào năm 1989 công việc quản lý tiêu chuẩn vá phát triển mạng GSM được chuyển cho viện viễn thông châu Âu (European Telecommunications Standards Institute - ETSI), và các tiêu chuẩn, đặc tính của GSM được công bố lần đầu tiên vào năm 1990. Vào cuối năm 1993 đã có hơn 1 triệu thuê bao sử dụng mạng GSM của 70 nhà cung cấp dịch vụ trên 48 quốc gia.
Đến nay GSM được sử dụng bởi hơn 2 tỷ người trên 212 quốc gia và vùng lãnh thổ. GSM là chuẩn phổ biến nhất cho điện thoại di động (ĐTDĐ) với khả năng có thể phủ sóng khắp nơi khiến nó trở nên phổ biến trên thế giới. GSM khác với các chuẩn trước kia về cả tín hiệu, tốc độ lẫn chất lượng cuộc gọi. GSM là một chuẩn mở, hiện tại nó được phát triển bởi 3rd Generation Partnership Project (3GPP).
Tuy nhiên, do nhu cầu các dịch vụ ngoài thoại tăng cao như truyền dữ liệu, video,…thì hệ thống thông tin di động 2G không đáp ứng nổi xu thế phát triển. Từ nhu cầu đó, hệ thống 3G ra đời với chuẩn WCDMA song hành cùng với chuẩn GSM. WCDMA là công nghệ nền tảng cho các công nghệ 3G khác như là UMTS và FOMA. WCDMA được tập đoàn EITS NTT Docomo Nhật bản phát triển riêng cho mạng 3G FOMA.
Sau đó NTT đã trình đặc tả này lên liên hiệp truyền thông quốc tế ITU và xin công nhận dưới danh nghĩa là một thành viên của chuẩn 3G có tên gọi IMT2000. ITU đã chấp nhận và công nhận WCDMA là giao diện nền tảng cho UMTS. FOMA được NTT Docomo 2 đưa vào ứng dụng từ năm 2001 và được coi là dịch vụ 3G thương mại đầu tiên trên thế giới.2 Lịch sử phát triển của mạng GSM: Vào đầu thập niên 1980, tại Châu Âu, người ta phát triển một mạng ĐTDĐ chỉ sử dụng trong một số khu vực. Sau đó năm 1982 nó được chuẩn hóa bởi CEPT (European Conference of Postal and Telecommunication Administrations) và tạo ra Groupe Spécial Mobile (GSM) với mục đích phát triển một chuẩn thống nhất cho hệ thống thông tin di động để có thể sử dụng chung cho toàn Châu Âu.
Mạng điện thoại di động sử dụng công nghệ GSM được xây dựng và đưa vào sử dụng đầu tiên bởi mạng Radiolinja ở Phần Lan. Vào năm 1989, công việc quản lý tiêu chuẩn và phát triển mạng GSM được chuyển cho Viện viễn thông Châu Âu (European Telecommunications Standards Istitute - ETSI) và các tiêu chuẩn, đặc tính phase 1 của công nghệ GSM được công bố vào năm 1990. Năm 1992, Telstra Australia là mạng đầu tiên ngoài Châu Âu ký vào biên bản ghi nhớ của GSM MoU (Memorandum of Understanding). Cũng trong năm này, thỏa thuận chuyển vùng quốc tế đầu tiên được ký kết giữa hai mạng Finland Telecom của Phần Lan và Vodafone của Anh.
Tin nhắn đầu tiên cũng được gửi đi trong năm 1992. Những năm sau đó, hệ thống thông tin di động toàn cầu GSM phát triển một cách mạnh mẽ, cùng với sự gia tăng nhanh chóng của các nhà điều hành, các mạng di động mới thì số lượng các thuê bao cũng gia tăng một cách chóng mặt. Đến cuối năm 1993 đã có hơn 1 triệu thuê bao sử dụng mạng GSM của 70 nhà cung cấp dịch vụ trên 48 quốc gia. Năm 1996, số thành viên GSM MoU đã lên tới 200 nhà điều hành từ gần 100 quốc gia, 167 mạng hoạt động trên 94 quốc gia với số thuê bao đạt trên 50 triệu.
Năm 2000, GPRS được ứng dụng. Năm 2001, mạng 3GSM (UMTS) được đi vào hoạt động, số 3 thuê bao GSM đã vượt quá 500 triệu. Năm 2003, mạng EDGE đi vào hoạt động. Cho đến năm 2006 số thêu bao di động GSM đã lên tới con số 2 tỉ với trên 700 nhà điều hành, chiếm gần 80% thị phần thông tin di động trên thế giới.
Theo dự đoán của GSM Association, năm 2007 số thuê bao GSM sẽ đạt 2,5 tỉ.3 Cấu trúc mạng và các dịch vụ tiêu chuẩn trong GSM 1.1 Mạng thông tin di động: Từ đầu năm 1980 sau khi hệ thống WMT đã đưa vào hoạt động một cách thành công thì nó cũng biểu hiện một số hạn chế. - Thứ nhất: do yêu cầu của dịch vụ quá lớn so với mong đợi của các nhà thiết kế nên hệ thống này không thể đáp ứng được. - Thứ hai: các hệ thống khác nhau đang hoạt động không phù hợp với người dùng trong mạng. Ví dụ: một đầu cuối trong TACS không thể truy nhập vào mạng NMT cũng như một đầu cuối NMT không thể truy nhập vào mạng TACS.
- Thứ ba: nếu thiết kế một mạng cho toàn Châu Âu thì không một nước nào đáp ứng được vì vốn đầu tư quá lớn. Tất cả những hạn chế trên dẫn đến một yêu cầu là phải thiết kế một hệ thống mới được làm theo kiểu chung để có thể dùng cho nhiều nước. Trước tình hình đó vào tháng 9/1987 trong hội nghị của Châu Âu về bưu chính viễn thông, 17 quốc gia đang sử dụng mạng điện thoại đã họp hội nghị và ký vào biên bản ghi nhớ làm nền tảng cho mạng thông tin di động số là toàn Châu Âu sử dụng dải tần 900 Mhz. Đến năm 1988 viện tiêu chuẩn Châu Âu (European- Telecommunication- Standard Institute) đã thành lập nhóm đặc trách về mạng thông tin di động số GSM.
Nhóm này có nhiệm vụ đưa ra tiêu chuẩn thống 4 nhất cho thông tin di động số GSM dưới hình thức các khuyến nghị, lấy các tiêu chuẩn này làm cơ sở cho việc xây dựng mạng thông tin di động và làm sao cho chúng thống nhất, tương thích nhau.2 Các đặc tính của mạng di động GSM: Từ các khuyến nghị của GSM ta có thể tổ hợp nên các đặc tính chủ yếu như sau: - Số lượng lớn các dịch vụ và tiện ích của các thuê bao cả trong thông tin thoại và số liệu. - Sự tương thích của các dịch vụ trong GSM với các dịch vụ mạng của mạng có sẵn (PSTN- ISDN) bởi các giao diện theo tiêu chuẩn chung. - Tự động cập nhật vị trí cho mọi thuê bao di động. - Độ linh hoạt cao nhờ sử dụng các đầu cuối thông tin di động khác nhau như máy xách tay, máy cầm tay, đặt trên ô tô.
- Sử dụng băng tần số 900MHz với hiệu quả cao nhờ sự kết hợp giữa TDMA (Time Division Multiple Access) với FDMA (Frequency Division Multiple Access). - Giải quyết sự hạn chế dung lượng nhờ việc sử dụng tần số tốt hơn.3 Cấu trúc mạng GSM: Hệ thống GSM có thể chia thành nhiều hệ thống con: * Hệ thống con chuyển mạch SS (Switching Subsystem). * Hệ thống con trạm gốc BSS (Base Station Subsystem). * Hệ thống khai thác và bảo dưỡng mạng OMC (Operations & Maintenance Center).
* Trạm di động MS (Mobile Station).1 Mô hình hệ thống GSM Các ký hiệu: - SS: Hệ thống chuyển mạch - AUC: Trung tâm nhận thực - VLR: Bộ ghi định vị tạm trú - HLR: Bộ ghi định vị thường trú - EIR: Thanh ghi nhận dạng thiết bị - MSC: Trung tâm chuyển mạch các dịch vụ di động (gọi tắt là tổng đài vô tuyến) - BSS: Hệ thống trạm gốc - BTS: Trạm thu phát gốc - BSC: Hệ thống điều khiển trạm gốc - MS: Trạm di động - OMC: Trung tâm khai thác và bảo dưỡng - ISDN: Mạng liên kết đa dịch vụ - PSPDN: Mạng chuyển mạch công cộng theo gói - PSSTN: Mạng chuyển mạch điện thoại công cộng - PLMN: Mạng di động công cộng mặt đất. 6 Cấu trúc mạng di động số GSM theo khuyến nghị của GSM thì mạng GSM được chia thành hệ thống chuyển mạch (SS) và hệ thống trạm gốc BSS. Mỗi một hệ thống chứa một số khối chức năng và các khối này được thực hiện ở các phần cứng khác nhau.1 Hệ thống trạm gốc BSS (Base Station Subsystem): Hệ thống BSS được chia thành hai khối chức năng chính: Trạm thu phát gốc BTS (Base Transceiver Station) và bộ điều khiển trạm gốc BSC (Base Station Controller), ngoài ra còn có khối thích ứng tốc độ chuyển đổi mã TRAU (Transcoder Rate Adaptor Unit). Phân hệ trạm gốc BSS (Base Station Subsystem), giao diện trực tiếp với các trạm di động MS bằng thiết bị BTS thông qua giao diện vô tuyến.
Mặt khác BSS thực hiện giao diện với các tổng đài ở phân hệ chuyển mạch SS. Nói chung, BSS thực hiện giao diện với tổng đài và nhờ vậy đấu nối những người sử dụng các trạm di động với những người sử dụng viễn thông khác. BSS cũng phải được điều khiển, do đó nó được đấu nối với phân hệ vận hành và bảo dưỡng OSS. Phân hệ trạm gốc BSS bao gồm: a.
TRAU (Transcoding and Rate Adapter Unit): Bộ chuyển đổi mã và phối hợp tốc độ. Có nhiệm vụ chuyển đổi tín hiệu thoại thành luồng tốc độ số 64kbit/s để truyền từ BSC đến MSC. TRAU tiếp nhận các khung số liệu 16kbit/s từ giao diện Abis giữa BSC đến MSC, và nó định dạng lại thông tin của mỗi luồng số liệu thành dạng A- TRAU để truyền đi trên giao diện A giữa BSC và MSC. TRAU thường được đặt cùng vị trí với BSC.
BSC (Base Station Controler): Trạm thu phát gốc BSC có nhiệm vụ quản lý giao diện vô tuyến giữa BTS với MS thông qua các lệnh điều khiển từ xa. Đó là các lệnh ấn định, giải 7 phóng kênh vô tuyến và quản lý chuyển giao. Vai trò của BSC là quản lý kênh và quản lý chuyển giao. BSC ấn định kênh vô tuyến trong toàn bộ thời gian thiết lập cuộc gọi và giải phóng kênh khi kết thúc cuộc gọi.
BSC thực hiện các quá trình chuyển giao (Handover) giữa các BTS. Một BSC có thể quản lý hàng chục BTS. Các chức năng chính của BSC: - Quản lý mạng vô tuyến - Quản lý trạm vô tuyến gốc BTS - Điều khiển nối thông tin các cuộc gọi - Quản lý mạng truyền dẫn c. BTS (Base Transceiver Station): Thực hiện chức năng vô tuyến trực tiếp đến các thuê bao di động MS thông qua giao diện vô tuyến Um.
BTS gồm các thiết bị thu, phát, anten và các khối xử lý tín hiệu. BTS được coi là một modem vô tuyến phức tạp có thêm một số chức năng khác. Chức năng chính của BTS là: - Quản lý lớp vật lý truyền dẫn vô tuyến - Quản lý giao thức liên kết số liệu giữa MS với BSC - Vận hành và bảo dưỡng trạm BTS - Cung cấp các thiết bị truyền dẫn và ghép kênh nối trên giao tiếp A- bis 1.