Đặt Vấn Đề. Chương này nêu lên lý do đề tài này được chọn để nghiên cứu, những mục tiêu mà dé tai hướng tới, địa bản nghiên cứu để thu thập những thông tin nhằm hoàn thành những mục tiêu đã đặt ra. Chương 2: Cơ Sở Lý Luận Và Phương Pháp Nghiên Cứu. Chương này nêu lên những lý thuyết có liên quan đến để tài nghiên cứu nhằm giải thích, tạo nền tảng cho việc mô tả, phân tích, đưa nhận định những thông tin thu thập được trong quá trình thu thập số liệu sơ cấp.
Ngoài ra cũng đưa ra những phương pháp được sử đụng trong quá trình thực hiện đề tài. Chương 3: Tổng Quan. Chương này nêu lên những thông tín chung về địa bàn nghiên cứu mà có tác động đến đối tượng nghiên cứu như vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, tình hình sản xuất và cơ sở hạn tầng. Chương 4: Kết Quả Nghiên Cứu Và Thảo Luân.
Các kết quả phân tích những thông tin đã điều tra sẽ được trình bày đầy đủ trong chương này. Ngoài ra, trong chương này tác giả cũng đưa ra những nhận định riêng của mình. Chương 5: Kết Luân Và Kiến Nghị. Chương này nêu lên những kết quả đã đạt được, từ đó đưa ra những kiến nghị.
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Ý nghĩa chiến lược của sản xuất mía đường ở nước fa Thay thế hàng nhập khẩu đáp ứng nhu cầu trong nước. Đường là mặt hàng nhu yếu phẩm, nếu sản xuất trong nước không đáp ứng đủ thì buộc phải nhập khẩu. Năm 1995, Việt Nam nhập 145000 tấn đường, năm 1998 nhập 95000 tấn và năm nay 2006 dự kiến nhập 300000 tấn.
Theo dự báo của chương trình đinh dưỡng quốc gia, nhu cầu của nước ta năm 2000 khoảng 960000 tấn. Theo thời giá hiện nay, nếu phải nhập khẩu toàn bộ thì nhu cầu ngoại tệ sẽ là 200 triệu USD, chiếm 12% dự trữ quốc gia. Do đó, với những lợi thế so sánh của nước ta, nếu có một giải pháp đồng bộ, hợp lý từ khâu tổ chức sản xuất nguyên liệu, chế biến và điều phối thị trường thì không những ngành mía đường có thể đáp ứng một cách tốt nhất nhu cấu trong nước, thay thế hàng nhập khẩu, tiết kiệm hàng năm hàng trăm triệu cho các chương trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mà còn có thể có cơ hội để xuất khẩu đường tạo nguồn thu ngoại tệ (Sỏi, 2003). Tao thêm việc làm góp phần bố trí lại dân cư.
Sản xuất mía đường là ngành sử dụng nhiều lao động, giải quyết được nhiều việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn. Theo thống kê của bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn qua 4 năm thực hiện chương trình đã tạo thêm việc làm cho hơn 30000 lao động công nghiệp. 600000 là động nông thôn và ổn đỉnh đời sống cho khoảng 1,4 triệu người với hơn 200000 hộ gia đình. Đây có thể nói là một trong những thành công lớn nhất của chương trình bởi các nhà máy, các vùng nguyên liệu được phân bố đều trong cả nước, tập trung chủ yếu ở các vùng sâu vùng xa, vùng khó khăn.
Thực sự góp phần phân bố lại dân cư, đặc biệt làm giảm bớt làn sóng đi dân về các đô thị, một hiện tượng không thể tránh khỏi đối với các nước đang trong quá trình CNH nền kinh tế như Việt Nam (S6i, 2003). Phát triển ngành mía đường góp phần xóa đói giảm nghèo và hiện đại hóa nông nghiệp — nông thôn. XĐÐGN và HĐH Nông nghiệp - Nông thôn là 2 chương trình quốc gia đang được các ngành, các cấp ra sức thực hiện. Chương trình mía đường đã vươn tới những vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, đất cần cỗi.
tạo ra công ăn việc làm cho người nghèo, hướng dẫn, đào tạo họ không những biết cách làm ăn, nâng cao thu nhập mà còn tạo điều kiện để phát triển văn hóa, y tế, giáo dục, hạ tầng cơ sở nông thôn mới, hình thành các thị trấn, thị tứ, các tụ điểm công thương nghiệp và địch vụ (Sỏi, 2003). Tăng thu nhập quốc dân và góp phần chuyến dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa — hiên đai hóa. Khi chương trình phát triển mía đường hoàn thiện, hàng năm sản xuất 12 triệu tấn mía cây, chế biến khoảng Ì triệu tấn đường sẽ đóng góp khoảng 8000 tỉ đồng từ các sản phẩm đường, sau đường, bên cạnh đường hàng năm cho ngân sách nhà nước. Đồng thời sản xuất mía đường có nhu cầu đầu vào rất lớn và đa dạng như: nguyên liệu, vật tư, phân bón, thuốc trừ sâu, năng lượng, điện nước, cỏ khô.
và cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp chế biến sản phẩm sau đường, bên cạnh đường như: cồn, bánh kẹo, ván ép, phân bón, nước giải khác. Do đó, phát triển ngành mía đường sẽ là động lực thúc đầy các ngành công nghiệp khác cùng phát triển theo hướng CNH và HĐH, góp phần chuyển nhanh cơ cấu kinh tế của cả nước (Sói, 2003). Nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Cây mía có một số đặc tính ưu việc như: khả năng chịu hạn, chịu phèn cao, có thể trồng trên đất mặn (không quá 0,04% noul), đất phèn, đất đồi, đất cát, đất xâu không có điều kiện tưới, hay đất hoàn toàn nhờ nước trời.
Năng suất sinh học rất lớn từ 200 — 400 tấn/ha, thời gian sinh trưởng kéo dài 8 — 24 tháng, hệ số che phủ của lá rất cao, hạn chế xói mòn đất. Với năng suất 80 tấn/ha cây mía sẽ trả lại cho đất khoảng 40 tấn lá, rễ, gốc làm chất hữu cơ. Mặt khác, nhu cầu sử dụng các loại hóa chất, thuốc sâu bệnh chỉ bằng 1⁄4 - 1⁄4 so với nhiều loại cây trồng khác. Vì vậy, cây mía thực sự là cây có giá trị kinh tế cao trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Đồng thời góp phần quan trọng trong việc cải thiện môi trường, một trong những mỗi quan tâm hàng đầu của nhân loại hiện nay (Sỏi, 2003). Đặc điểm sinh thái, sinh lí, sinh hóa và sinh trưởng của cây mía Đặc điểm sinh thái. Mía là cây có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới nên nó cần nóng ấm và sợ giá rét. Trên thế giới cây mía được phân bố từ vĩ độ 35 Bắc đến 35° Nam.
Trong đó phần lớn nằm từ vĩ độ 30° Bac đến 30° Nam. Tương đối ít ở vùng xích đạo, tập trung nhiều ở gẦn nam, bắc chí tuyến. Về độ cao thì nó phân bố từ vùng đất thấp duyên hải đến vùng đồi, vùng cao nguyên và giới han độ cao 1000 — 1200m ở vùng xích đạo, giới hạn 700m độ cao ở vùng chí tuyến. Giới hạn phía bắc là vùng Đông Nam Tây Ban Nha, Pakixtan, vùng Gange của Án Độ, vùng Nam Trung Quốc và đảo Đài Loan, .Giới hạn phía nam là vùng Natan của Nam Phi, Mađagasca, Rêunion, đảo Morixow, dao Fiji, tinh Tueuman của Achentina.
Yêu cầu của cây mía về môi trường sinh thái — Nhiệt độ. Mia thường sinh trưởng đạt đến mức độ tối đa khi nhiệt độ vào khoảng 30°C. Trén 35°C mía bắt đầu sinh trưởng chậm lại. Trên 38°C mia dinh chỉ sinh trưởng, vì quá trình dị hóa cao hơn quá trình đồng hóa.
Nhiệt độ thấp đưới 0°C kéo dài mía sẽ bị chết vì đông nhựa. Dưới 150C mía đình chỉ sinh trưởng. Từ 16°C đến 20°C mía sinh trưởng rất chậm. Từ 210C trở lên tốc độ sinh trưởng tăng nhanh rõ rệt.
Nhìn chung nhiệt độ thích hợp cho cả quá trình sinh trưởng là từ 24°C đến 30°C. Giữa các thời kì thì thời kì đầu và thời kì cuối yêu cầu nhiệt độ thấp hơn thời kì giữa. Thời kì tích lũy đường mía đòi hỏi nhiệt độ tương đối thấp từ 14°C đến 25°C và biên độ nhiệt giữa ngày và đêm càng cao càng tốt (Sói, 2003). Ánh sáng là môi trường sinh thái cực kì quan trọng đối với cây mía.
Trong suốt cuộc đời mình, cây mía cần khoảng 2000 đến 3000 giờ chiếu sáng, tối thiêu cũng phải có từ 1200 giờ chiếu sáng trở lên. Mia là cây rất nhạy cảm với ánh sáng, nó cần cường độ ánh sáng mạnh và rất sợ bóm râm. Mía là cây không bão hòa ánh sáng, quang hợp thuần của nó tiếp tục mãi với cường độ ánh sáng tăng. Trong điều kiện ánh sáng đầy đủ, múa sinh trưởng tốt, ít bệnh tật, cây to, cao, lá rộng và dài, cây hữu hiệu tăng, năng suất cao, chất lượng tốt.
Ngược lại, những nơi thiếu ánh sáng thì mía mọc vóng, bé cây, tỉ lệ chất xơ thấp, dễ đổ ngã, ít cây, lá mỏng và hẹp, ngắn, năng suất thấp, chất lượng rất kém (Sỏi, 2003). Mía là loại cây cần rất nhiều nước, nhưng lại rất sợ úng thủy. Trong thân cây mía, nước chiếm tỉ lệ 70%. Do đó nước có tác dụng rất lớn trong tất cả các quá trình sinh trưởng của cây mía, là nhân tố không thể thiếu được đối với cây mía.
Để tạo thành Ikg mía nguyên liệu, mia tiêu hao từ 86 đến 210 lít nước. Phổ biến vào khoảng 150 lít nước cho 1kg mía nguyên liệu đưa vào chế biến. Để đạt năng suất cao, mía cần một lượng mưa hữu hiệu tối thiểu là 1500mm cho cả chu kì sinh trưởng. Lượng mưa hữu hiệu đó tương đương với lượng mưa thực tế là 2000 — 2500mm (Sỏi, 2003).
Độ ẩm tối thích cho cây mía cũng thay đổi khá nhiều theo từng thời kì sinh trưởng của mía. Trong thời kì nảy mầm, mía cần khoảng 65% độ ẩm tối đa trong đất. Thời kì đẻ nhánh, độ ẩm trong đất thích hợp là 55 - 70% độ ẩm tối đa trong đất. Thời kì vươn lóng, độ ẩm tối thích là 60 — 80% độ ấm tối đa trong đất.
Thời kì tích lũy đường, độ ẩm tối thích lúc này vào khoáng 50 đến 60% độ ẩm tối đa trong đất. Thừa nước lúc này (độ ấm cao hơn 60%) sẽ làm cho mía chín chậm, hàm lượng đường thấp, tạp chất nhiều. Do đó phải sắp xếp thời vụ sao cho mía chín đúng vào các tháng khô hanh trong năm (Sỏi, 2003). _ Đất Đất là môi trường đặc biệt quan trọng đối với cây mía cũng như các loại cây trồng khác.
Đất là giá đỡ cho cây mía, là nơi bảo quản và cung cấp các chất đinh dưỡng, nước và không khí cho cây mía, tạo điều kiện thuận lợi cho cây sinh trưởng. Đất thích hợp với cây mía là loại đất có khả năng giữ nước tốt, có khả năng hút nước tốt. Đất có kết cầu tốt, đất xốp, thoáng, đất có khoảng 40% chất rắn, 30% nước và 30% không khí, điều hòa tốt giữa nước và không khí.