CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ROBOT DI CHUYỂN BẰNG HAI CHÂN 1. Các khái niệm về robot và robot di chuyển bằng hai chân Robot có thể được định nghĩa bằng nhiều cách, và đến nay cũng chưa có sự thống nhất về các định nghĩa này. Tuy nhiên, có thể xác định một cách tương đối khái niệm về robot như sau: “Robot là một thiết bị cơ điện tử có thể lập trình được để phản ứng một cách nào đó với môi trường của nó và hành động để đạt được một nhiệm vụ cụ thể”. Robot giúp giải phóng sức người, giúp con người tránh khỏi các nhiệm vụ khó khăn hoặc nguy hiểm.
Robot được sản xuất thương mại và ứng dụng trong công nghiệp đầu tiên có lẽ là tay máy robot của công ty Unimation, được thiết kế bởi kỹ sư George Devol vào thập niên 1960. Các tay máy này được điều khiển từ xa bởi một kỹ thuật viên sau màn bảo vệ để làm việc với các vật liệu phóng xạ. Cùng với sự phát triển của ngành tin học, các hệ thống máy tính và trí tuệ nhân tạo được tích hợp ngày càng sâu rộng vào robot, càng đẩy mạnh việc giải phóng con người khỏi công việc điều khiển robot. Ngày nay, robot có thể được chia thành các loại như sau: tay máy robot (robot manipulators), robot di chuyển (mobile robots), robot phỏng sinh học (bio-inspired robots) và robot cá nhân (personal robots).
Tay máy robot bao gồm các loại robot công nghiệp (industrial robots), robot y tế (medical robots) và robot trợ giúp người tàn tật (rehabilitation robots). Robot di chuyển được nghiên cứu nhiều như xe tự hành trên mặt đất (Autonomous Guided Vehicles – AGV), robot tự hành dưới nước (Autonomous Underwater Vehicles - AUV), robot tự hành trên không (Unmanned Arial Vehicles – UAV) và robot vũ trụ (space robots). Các robot di chuyển trên mặt đất đa phần sử dụng bánh xe hoặc bánh xích để di chuyển, tuy nhiên robot di chuyển còn bao gồm các loại robot mô phỏng sinh học như robot di chuyển bằng chân (legged mobile robots), robot dáng người (humanoid robot) và các loại robot mô phỏng. Chuyển động di chuyển bằng chân được miêu tả bằng một tập hợp các tiếp điểm giữa phần thân robot với mặt đất.
Lợi thế chính của kiểu di chuyển bằng chân so với di chuyển bằng bánh xe hay bánh xích là khả năng thích nghi với các địa hình gồ ghề. Bởi vì robot chỉ cần tiếp đất tại một số tiếp điểm nhất định, nên độ lồi lõm của mặt đất giữa các tiếp điểm là có thể bỏ qua, miễn là robot đạt được trạng thái cân bằng. Bên cạnh đó, robot di chuyển bằng chân còn có thể vượt qua các hố hay chướng ngại 10 vật trên đường di chuyển, miễn là sải chân của nó đủ dài. Bất lợi chính của kiểu di chuyển bằng chân là độ phức tạp trong thiết kế của chân robot.
Chân của robot phải được thiết kế sao chịu được sức nặng của thân robot, phải có khả năng nâng lên và hạ xuống khối lượng này. Tính linh hoạt của robot di chuyển bằng chân cũng chỉ có thể đạt được nếu các chân của nó có đủ bậc tự do. Trong thiết kế robot di chuyển bằng chân, người ta thường nhìn vào đặc tính di chuyển của động vật trong tự nhiên để mô phỏng, từ đó cho ra đời các loại robot di chuyển bằng sáu chân trở lên (côn trùng), bốn chân (thú), hai chân (con người).1 - Minh họa một số cấu hình robot di chuyển bằng chân 1. Lịch sử hình thành và phát triển robot di chuyển hai chân Từ nhiều thế kỉ qua, con người đã có những ước mơ xây dựng một cỗ máy có thể mô phỏng hoạt động của mình nhằm mục đích thay thế và phục vụ cho chính con người trong cuộc sống thường ngày.
Trong đó, nghiên cứu và chế tạo robot đi bộ bằng hai chân được coi là mục tiêu quan trọng. Những nỗ lực của con người trong việc hiện thực hóa mục tiêu đó đã mang lại nhiều thành tựu đáng chú ý. Robot di chuyển hai chân có thể được chia thành hai loại: bước đi tĩnh và bước đi động. Robot bước đi tĩnh có ưu điểm là luôn ổn định, tuy nhiên chúng di chuyển chậm và có khối lượng lớn.
Robot bước đi động có bước đi gần với bước đi của con người hơn, di chuyển nhanh nhẹn và khéo léo hơn nhưng không ổn định. Từ năm 1966 đến năm 1969, Đại học Waseda, Tokyo cho ra đời các thế hệ robot WL-01 đến WL-03 và được công nhận là các robot đi bộ hai chân lập trình được đầu tiên. Dòng robot này đều là robot bước đi tĩnh, với bộ nhớ lưu trữ chương trình bước đi có thể thay đổi được. Robot ASIMO (viết tắt của “Advanced Step in Innovative Mobility”) là một robot giống người được thiết kế và phát triển bởi Honda.
Công nghệ di chuyển của ASIMO được các nhà thiết kế tập trung nghiên cứu. Sau khi bước đi của robot đã được hoàn thiện, phần thân, tay và đầu của robot mới được thêm vào để tạo hình dạng 11 hoàn chỉnh giống với con người. Các thế hệ của ASIMO từ năm 1986 đến năm 2005 được thể hiện ở Hình 1.2 -Các thế hệ ASIMO E0 là sản phẩm đầu tiên ra đời vào năm 1986. E0 bước đi rất chậm theo cơ chế bước đi tĩnh, nghĩa là mỗi khi bước về phía trước, nó buộc phải chờ đến khi trọng lượng cơ thể cân bằng trở lại trước khi thực hiện bước tiếp theo.
Các thế hệ ASIMO tiếp theo E4, E5, E6 đã được hoàn thiện cơ chế đi lại đến mức robot có thể dễ dàng di chuyển trên một mặt phẳng nghiêng và trên những địa hình không bằng phẳng. ASIMO (2005) đã được hoàn thiện hơn nữa hệ thống di chuyển với khả năng đi lại rất dễ dàng và thậm chí có thể chạy. Các thế hệ robot HRP được thể hiện trong hình 1. Mẫu robot mới có tên HRP-4, nổi bật với hai màu trắng – xanh được hi vọng giúp giải quyết tình trạng thiếu hụt nhân công trầm trọng hiện nay tại Nhật Bản.
Nối tiếp chuỗi robot được thiết kế suốt 10 năm, robot HRP-4 có những đặc điểm mới như mềm mại hơn, di chuyển vững vàng để thay thế con người trong công việc thủ công lặp đi lặp lại. Tóm lại, trải qua thời gian dài nghiên cứu và phát triển, robot đi bộ bằng hai chân đã dần được hoàn thiện cả về cơ chế di chuyển và cấu trúc của robot.3 -Các thế hệ robot HRP: Honda P3 (1997), HRP-1 (1997), HRP-2 (1998), HRP-4 (2010) 1. Cấu trúc robot di chuyển bằng hai chân Ta có thể thấy rằng, việc thiết kế một robot di chuyển bằng hai chân là khó hơn nhiều so với robot di chuyển bốn chân hay sáu chân. Với một robot có nhiều chân, trạng thái cân bằng trong một tư thế bất kỳ có thể dễ dàng đạt được nếu hình chiếu trọng tâm trên mặt đất của nó rơi vào đa giác nối các tiếp điểm (hay bàn chân) đang đặt trên mặt đất.
Robot chỉ có hai chân không thể thực hiện điều này. Nhìn vào tự nhiên, ta thấy rằng con người ngay cả khi đứng yên luôn phải thực hiện các chuyển động rất nhỏ để điều chỉnh vị trí trọng tâm của mình trên hai chân. Do đó, robot di chuyển hai chân phải có cấu trúc cho phép có đủ số bậc tự do để điều chỉnh điểm rơi của trọng tâm của nó, và quỹ đạo di chuyển của chân robot cần được thiết kế cho phù hợp với các đặc điểm động lực học của robot. Quá trình nghiên cứu và mô hình hóa robot di chuyển bằng hai chân được bắt đầu bằng việc nghiên cứu và mô hình hóa cách thức di chuyển của con người.
Mô hình hóa bước đi của cơ thể người đã được phát triển từ các mô hình đơn giản như mô hình con lắc ngược, mô hình lò xo gắn vào khối lượng, cho đến các các mô hình tương đối phức tạp bao gồm số bậc tự do tương đối cao. Mục tiêu chính của các mô hình đó là dự đoán các nội lực và ngoại lực trong một chu kỳ bước đi thông thường. Các mô hình cơ thể người chi tiết có thể bao gồm các tính toán về lực cơ quan trọng nhất đối với các dạng chuyển động cụ thể. Tuy nhiên, đối với robot chuyển 13 động thông qua các động cơ quay, không cần tính toán các lực cơ cụ thể mà là các mômen của các khớp tương ứng.
Có hai lý do chính cho việc tính toán mômen khớp: Dựa trên mô hình đi bộ, người ta có thể dự đoán mô-men xoắn cực đại cần thiết để tạo ra chuyển động cụ thể cho một cấu trúc robot. Mô men xoắn cực đại và công suất cực đại là dữ liệu cần thiết để lựa chọn các cơ cấu chấp hành chung. Quy trình lựa chọn thiết bị truyền động (động cơ) dựa trên mô hình di chuyển của robot vốn đã lặp đi lặp lại. Mô men xoắn tại các khớp liên quan cho chuyển động cụ thể, được tính toán dựa trên mô hình đi bộ, có thể được sử dụng để tính toán quỹ đạo điều khiển danh nghĩa cho một robot di chuyển hai chân.
Những quỹ đạo danh nghĩa đó có thể được tính toán ngoại tuyến hoặc trong thời gian thực bằng cách sử dụng mô hình nghịch đảo. Ưu điểm của phương pháp sau là các quỹ đạo tham chiếu (mong muốn) có thể được thay đổi trực tuyến tùy thuộc vào các điều kiện do môi trường áp đặt thay vì chuyển tiếp trên các quỹ đạo tham chiếu được tính toán trước. Điều này rất cần thiết cho việc tránh chướng ngại vật, đòi hỏi các quỹ đạo tham chiếu phải được điều chỉnh cho phù hợp. Việc đưa nhiều bậc tự do hơn vào mô hình robot đi bộ thường dẫn đến kết quả chính xác hơn, nhưng cũng dẫn đến một bài toán phức tạp hơn, khó giải quyết hơn.
Chẳng hạn, robot ASIMO thế hệ mới nhất (2011) có tổng cộng 57 bậc tự do, trong đó riêng thành phần hông – chân có 14 bậc tự do. ASIMO 2011 cao 1m3, nặng 48 kg và có khả năng chạy với tốc độ tối đa 9km/h, đi lùi, nhảy cóc, nhảy lò cò… Hình 1.4 - Robot ASIMO 2011 Một ví dụ khác về cấu trúc robot di chuyển bằng hai chân đã đạt được nhiều thành công là robot Atlas của hãng Boston Dynamics. Atlas có khối lượng 80kg (có 14 thể mang thêm một tải trọng 11kg) và chiều cao 1m8. Atlas có 6 bậc tự do cho mỗi chân và có khả năng đi, chạy, nhảy vượt rào, nhào lộn… Hình 1.5 - Robot Atlas Phần tiếp theo sẽ giới thiệu tổng quan về các mô hình đơn giản hóa được sử dụng trong luận văn này.