CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ROBOT 1.1 Giới thiệu chung về Robot 1.1 Sơ lược về lịch sử ra đời của Robot Robot: • Là một thiết bị cơ khí có thể giống như con người và có thể thực hiện nhiều nhiệm vụ phức tạp của con người bởi các lệnh hoặc chương trình điều khiển. • Là máy hoặc thiết bị có thể hoạt động tự động hoặc được điều khiển từ xa. • Có thể ví giống như con người làm việc một cách cơ học ngoài ý thức. Tức là trả lời một cách tự động bởi các lệnh điều khiển.
Thuật ngữ “Robot” xuất phát từ tiếng Séc (Czech) “Robota” có nghĩa là công việc tạp dịch trong vở kịch Rossum’s Universal Robots của Karel Capek vào năm 1921. Trong vở kịch này, Rossum và con trai của ông ta đã chế tạo ra những chiếc máy gần giống với con người để phục vụ con người. Có lẽ đó là một gợi ý ban đầu cho các nhà sáng chế kỹ thuật về những cơ cấu, máy móc bắt chước các hoạt động cơ bắp của con người. Và đến nay đã trải qua một quá trình cải tiến và hoàn thiện rất nhanh chóng.
Bắt đầu là cơ cấu tay máy chép hình cơ khí, thuỷ lực hoặc điện từ được điều khiển từ xa trong các phòng thí nghiệm về vật liệu phóng xạ ở Hoa Kỳ như tay máy Minotaur I hoặc tay máy Handyman. Dưới đây ta sẽ điểm qua một số thời điểm lịch sử phát triển Robot. 1938 Harolh Roselund và Willard người Mỹ đã thiết kế ra cơ cấu phun sơn có thể lập trình đầu tiên cho công ty De Vibiss. 1942 Isaac Asimov xuất bản cuốn “Runaround” trong đó ông đưa ra 3 nguyên tắc về Robot.
-------------------------------------------------------------------------------------------------- Nguyễn Thị Thanh Vân - Luận văn Thạc sỹ Cơ học kỹ thuật 8 ------------------------------------------------------------------------------------------------------ 1951 Raymond Goertz người Pháp đã thiết kế một cánh tay có khớp có thể hoạt động từ xa cho dự án năng lượng nguyên tử. Thiết kế này dựa toàn bộ vào các mối nối cơ học giữa cánh tay chính và cánh tay phụ (sử dụng cáp bằng thép hoặc bằng ròng rọc). Mẫu thiết kế này ngày nay vẫn được sử dụng khi cần xử lý các mẫu hạt nhân. Nói chung đây được coi như một bước ngoặt trong kỹ thuật hồi lực.1 Robot Handyman 1954 Goerge C.
Devol đã thiết kế ra một cơ cấu Robot có thể lập trình đầu tiên và đặt tên là Universal Automation và cũng chính là nguồn gốc tên công ty sau này của ông là Unimation. 1959 Marvin Minsky và John McCarthy thành lập phòng thí nghiệm trí tuệ nhân tạo tại MIT (Massachusetts Institute of Technology). Devol và các cộng sự cho ra đời chiếc Robot công nghiệp đầu tiên có tên là Unimate. 1960 Tập đoàn Codec đã mua lại Công ty Unimation của C.Devol và bắt đầu phát triển hệ thống Robot Unimate.
-------------------------------------------------------------------------------------------------- Nguyễn Thị Thanh Vân - Luận văn Thạc sỹ Cơ học kỹ thuật 9 ------------------------------------------------------------------------------------------------------ 1961 General Motors đã mua lại chiếc Robot công nghiệp đầu tiên Unimate từ công ty Unimation và lắp đặt cho dây chuyền sản xuất. Robot điều khiển bằng tay chính là loại đầu tiên của thế hệ Robot Unimate. 1963 John McCarthy đứng ra lãnh đạo phòng thí nghiệm trí tuệ nhân tạo tại trường Stanford. 1964 Các phòng thí nghiệm nghiên cứu trí tuệ nhân tạo được mở tại MIT, SRI (Stanford Research Institute), Trường đại học Stanford và trường đại học Edinburgh.
1964 Hãng C&D Robotics được thành lập. 1964 Carnegie Mellon University thành lập học viện về Robot (Robotics Institute). 1965 Phép biến đổi thuần nhất được ứng dụng cho cách tính động học Robot. Nguồn gốc hình thành học thuyết Robot ngày nay.
1967 Nhật bản nhập khẩu chiếc Robot Versatran từ hãng AMF (đây là chiếc Robot được nhập khẩu đầu tiên vào Nhật). 1968 Kawasaki đã cấp giấy phép thiết kế chiếc Robot thuỷ lực bởi Công ty Unimation và bắt đầu sản xuất tại Nhật. 1968 SRI đã thiết kế ra Shakey, một Robot di động có khả năng quan sát và được điều khiển bởi một máy cỡ lớn như một cái phòng. 1970 Giáo sư Victor Scheinman của đại học Stanford đã thiết kế ra mẫu Robot Standard Arm.
Mà ngày nay cơ cấu động học của nó được xem như cánh tay Robot tiêu chuẩn. 1973 Cincinnati Milacron đã phát minh ra loại T3, loại Robot công nghiệp mang tính thương mại được điều khiển bởi một máy tính mini (thiết kế bởi Richard Hohn). 1974 Giáo sư Victor Sheinman, nhà phát triển loại cánh tay Stanford, đã thành lập công ty Vicarm nhắm đưa ra thị trường một phiên bản cánh tay Robot cho các ứng dụng công nghiệp. Loại cánh tay mới này được điều khiển bởi một máy tính mini.
-------------------------------------------------------------------------------------------------- Nguyễn Thị Thanh Vân - Luận văn Thạc sỹ Cơ học kỹ thuật 10 ------------------------------------------------------------------------------------------------------ 1976 Cánh tay Robot được sử dụng trên các tàu do vũ trụ Viking 1 và 2. Trong các thiết kế này công ty Vicarm đã sử dụng các vi tính máy tính (Microcomputer). 1977 ASEA, một công ty Robot Châu âu đã giới thiệu 2 loại Robot công nghiệp chạy bằng điện. Cả hai đều sử dụng máy vi tính cho việc lập trình và điều khiển hoạt động.
Unimation đã mua lại Công ty Vicarm. 1978 Sử dụng công nghệ của Vicarm, Unimation đã sản xuất Robot PUMA. Ngày nay chúng ta có thể thấy Puma vẫn có trong một số phòng thí nghiệm. 1979 Sankyo và IBM đã đưa ra thị trường mẫu Robot Scara (Selective Compliant Articulated Robot Arm) tại trường Yamanashi của Nhật.
Trong những năm sau này, việc nâng cao tính năng hoạt động của Robot không ngừng phát triển. Các Robot được trang bị thêm các loại cảm biến khác nhau để nhận biết môi trường xung quanh, cùng với những thành tựu to lớn trong lĩnh vực Tin học - Điện tử đã tạo ra các thế hệ Robot với nhiều tính năng đặc biệt. Số lượng Robot ngày càng gia tăng, giá thành ngày càng giảm. Do đó Robot công nghiệp đã chiếm vị trí quan trọng trong các dây chuyền sản xuất.
Đã có rất nhiều chủng loại Robot với nhiều hình dáng, kích cỡ và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của xã hội như: Công nghiệp, Khoa học, y tế, an ninh. Một vài số liệu về số lượng Robot được sản xuất ở một vài nước công nghiệp phát triển như sau: -------------------------------------------------------------------------------------------------- Nguyễn Thị Thanh Vân - Luận văn Thạc sỹ Cơ học kỹ thuật 11 ------------------------------------------------------------------------------------------------------ Bảng 1.1 Vài số liệu về tình hình ứng dụng robot Năm 1998 Nước sản xuất Năm 1990 Năm 1994 (Dự tính) Nhật 60.850 Mỹ là nước đầu tiên phát minh ra Robot, nhưng nước phát triển cao nhất trong lĩnh vực nghiên cứu chế tạo và sử dụng Robot lại là Nhật.2 Cấu trúc động học của Robot Về cấu trúc động học của Robot là một hệ nhiều khâu ghép nối với nhau bằng các khớp. Khâu: là những bộ phận có chuyển động tương đối với nhau. Khâu có thể là một hay nhiều chi tiết máy ghép cứng với nhau.
Chi tiết máy là các bộ phận không thể tháo rời nữa của máy. Khớp: là chỗ nối động giữa hai khâu, nghĩa là có chuyển động tương đối với nhau. Như vậy cứ hai khâu nối với nhau tạo thành một khớp động và chỗ tiếp xúc giữa hai khâu tạo thành khớp động gọi là hai thành phần khớp động. Khớp có các ràng buộc vật lý về chuyển động tương đối giữa hai thành phần của khớp.
• Các khớp thường được sử dụng: - Khớp quay (Revolute Joint - R): Cho phép hai thành phần của khớp chuyển động quay tương đối với nhau theo một trục được xác định bằng dạng hình học của khớp. Khớp quay hạn chế 5 khả năng chuyển -------------------------------------------------------------------------------------------------- Nguyễn Thị Thanh Vân - Luận văn Thạc sỹ Cơ học kỹ thuật 12 ------------------------------------------------------------------------------------------------------ động tương đối giữa hai thành phần khớp. Khớp quay còn gọi là khớp bản lề. - Khớp lăng trụ (Prismatic - P): Cho phép hai thành phần của khớp trượt với nhau theo một trục được xác định bằng dạng hình học của khớp.
Do đó khớp lăng trụ hạn chế 5 khả năng chuyển động tương đối giữa hai thành phần khớp. Khớp lăng trụ còn gọi là khớp tịnh tiến. - Khớp trụ (Cylindrical Joint - C): Cho phép hai thành phần của khớp có hai chuyển động độc lập, gồm một chuyển động quay quanh một trục và một chuyển động tịnh tiến dọc theo trục quay đó. Do đó khớp trụ hạn chế 4 khả năng chuyển động giữa hai thành phần của khớp.
- Khớp ren (Helical Joint - H): Cho phép hai thành phần của khớp chuyển động quay quanh một trục đồng thời tịnh tiến theo trục quay. Tuy nhiên chuyển động tịnh tiến phụ thuộc chuyển động quay bởi bước vít. Do đó khớp ren hạn chế 5 khả năng chuyển động giữa hai thành phần của khớp. - Khớp cầu (Spherical joint - S): Cho phép hai thành phần của khớp thực hiện chuyển động quay giữa hai khâu quanh tâm cầu theo tất cả các hướng.
Do đó khớp cầu hạn chế ba khả năng chuyển động giữa hai thành phần của khớp. - Khớp phẳng (Plane Joint - P): Cho phép hai thành phần của khớp chuyển động tịnh tiến theo hai trục trong mặt tiếp xúc và một khả năng quay quanh trục vuông góc với mặt phẳng tiếp xúc. Do đó khớp phẳng hạn chế ba khả năng chuyển động giữa hai thành phần của khớp. - Khớp bánh răng (Gear Pair - G): Hai bánh răng ăn khớp, cho phép một bánh răng lăn và trượt với bánh răng kia tại điểm tiếp xúc giữa hai bánh răng ăn khớp.
Do đó khớp bánh răng phẳng hạn chế 4 khả năng chuyển động. -------------------------------------------------------------------------------------------------- Nguyễn Thị Thanh Vân - Luận văn Thạc sỹ Cơ học kỹ thuật 13 ------------------------------------------------------------------------------------------------------ Bảng 1.2 Cấu trúc của một số loại khớp robot Bậc tự STT Tên Khớp Ký hiệu Lược đồ Kết cấu do tương đối 1 Khớp cầu S 3 2 Khớp trượt P 1 3 Khớp quay R 1 4 Khớp trụ C 1 5 Khớp ren H 1 1.3 Bậc tự do chuyển động của Robot Khả năng chuyển động của Robot xác định khả năng của nó trong việc thực hiện các di chuyển độc lập khác nhau. Khả năng chuyển động của Robot được đặc trưng bới số bậc tự do chuyển động của nó và phụ thuộc vào số khâu, khớp, cấu trúc của các khớp và cấu trúc của mạch động học của Robot. Cấu trúc động học của Robot ràng buộc và hạn chế khả năng chuyển động của Robot, có thể cả về vị trí, vận tốc, gia tốc.
Về mặt cơ học, số bậc tự do của Robot được hiểu là số di chuyển ảo độc lập của nó. Đố với các Robot mà chuyển động của nó hạn chế về vị trí thì số bậc tự do được xác định bởi số tham số độc lập đủ để xác định vị trí của Robot. -------------------------------------------------------------------------------------------------- Nguyễn Thị Thanh Vân - Luận văn Thạc sỹ Cơ học kỹ thuật 14 ------------------------------------------------------------------------------------------------------ Ta có: g f = (n − 1)λ − ∑ (λ − fi ) + fc − f r (1.