Tổng quan về luận án
Nghiên cứu văn hóa ẩm thực dưới lăng kính nhân học và văn hóa học đã vượt thoát khỏi cách tiếp cận thuần túy về dinh dưỡng hay kỹ thuật chế biến để trở thành phương tiện giải mã cấu trúc xã hội, biểu tượng tâm linh và bản sắc tộc người. Trong bối cảnh đó, luận án tiến sĩ "Văn hóa ẩm thực của người Chăm Ahiér ở huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận" (Mã số: 9 22 90 40) do nghiên cứu sinh Trần Thị Thái thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS. Vương Xuân Tình tại Học viện Khoa học Xã hội (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, 2023) mang tính tiên phong khi định vị ẩm thực như một hệ thống diễn ngôn văn hóa toàn diện của cộng đồng Chăm Ahiér (Chăm Bà la môn).
Nghiên cứu giải quyết một khoảng trống tri thức then chốt (research gap): trước đây, các công trình về người Chăm chủ yếu tập trung vào lịch sử vương quốc Champa, văn bia, kiến trúc đền tháp, tôn giáo hay thiết chế mẫu hệ (Lafont, 1964; Maspero, 1928; Phan Xuân Biên, 1989), trong khi ẩm thực chỉ được đề cập tản mạn như một tiểu mục mô tả phụ lục mà chưa từng được nghiên cứu như một hệ thống biểu trưng phản chiếu vũ trụ quan và trật tự xã hội. Hai câu hỏi nghiên cứu cốt lõi được đặt ra:
- Thực hành văn hóa ẩm thực trong đời sống thường ngày và trong các nghi lễ của người Chăm Ahiér diễn ra như thế nào về cơ cấu, cách chuẩn bị, tổ chức và quy chuẩn kiêng kỵ?
- Các thực hành văn hóa ẩm thực đó phản ánh và kiến tạo những phương diện nào trong vũ trụ quan, nhân sinh quan và cấu trúc quan hệ xã hội của người Chăm Ahiér đương đại?
Luận án vận hành trên khung lý thuyết tam giác tích hợp: Chức năng luận cấu trúc (Structural Functionalism), Cấu trúc luận (Structuralism) và Lý thuyết phát triển - biến đổi văn hóa (Developmental & Cultural Transformation Theory). Về phạm vi không gian và quy mô mẫu, nghiên cứu tập trung khảo sát 4 làng Chăm cổ truyền có bề dày lịch sử tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận (địa bàn có 145.835 dân, trong đó người Chăm chiếm 30,3% theo số liệu năm 2019), bao gồm: làng Hữu Đức (Hamu Tanran), làng gốm Bàu Trúc (Hamu Crauk), làng dệt Mỹ Nghiệp (Caklaing) và làng Như Bình (Pdara). Khung thời gian nghiên cứu điền dã chuyên sâu kéo dài liên tục từ năm 2017 đến năm 2019, kết hợp hồi cố lịch sử để làm rõ sự biến đổi văn hóa qua các thời kỳ.
Literature Review và Positioning
Điểm luận các dòng nghiên cứu quốc tế và trong nước cho thấy ba khuynh hướng lý thuyết chính trong nhân học ẩm thực:
Thứ nhất, khuynh hướng chức năng luận, khởi xướng bởi Bronisław Malinowski (1922) tại quần đảo Trobriand và Audrey Richards (1932, 1939) nghiên cứu về người Bemba và Bantu. Richards đã chỉ ra rằng việc chuẩn bị và chia sẻ thức ăn là phương thức củng cố thiết chế thân tộc và duy trì cấu trúc xã hội. Tiếp nối, E. E. Evans-Pritchard (1940) phân tích mối quan hệ giữa sinh thái, đàn gia súc và tổ chức chính trị phụ hệ của người Nuer ở Sudan. Tại Việt Nam, Trần Quốc Vượng (1993, 2000), Ngô Đức Thịnh (2001) và Vương Xuân Tình (2004) đã áp dụng chức năng luận để chứng minh cơ cấu bữa ăn truyền thống "cơm - rau - cá" là sự thích ứng sinh thái của nền văn minh thực vật nhiệt đới gió mùa.
Thứ hai, khuynh hướng cấu trúc luận, tiêu biểu với Claude Lévi-Strauss (1965, 1968) qua mô hình "Tam giác ẩm thực" (Culinary Triangle) phân định các trục đối lập nhị nguyên: sống/chín (văn hóa/tự nhiên) và thối rữa (tự nhiên). Mary Douglas (1966, 1972) phát triển phân tích cấu trúc bữa ăn gia đình như một hệ thống quy tắc giải mã ranh giới "người trong cuộc" và "người ngoài cuộc", đồng thời phân loại thức ăn ô uế và tinh sạch.
Thứ ba, khuynh hướng phát triển và giao lưu văn hóa, đại diện bởi Marvin Harris (1985) với thuyết duy vật văn hóa giải mã các kiêng cữ tôn giáo; Jack Goody (1982) với lịch sử giai cấp trong ẩm thực; và Emiko Ohnuki-Tierney (1993) trong tác phẩm kinh điển "Rice as Self: Japanese Identities through Time", phân tích lúa gạo như một biểu tượng kiến tạo bản sắc và sự thuần khiết của người Nhật qua các thời kỳ giao lưu văn hóa.
Về tranh luận học thuật (academic debates), có sự xung đột rõ rệt giữa hai quan điểm:
- Quan điểm duy vật sinh thái (Marvin Harris, 1985) cho rằng các cấm kỵ thực phẩm (như kiêng thịt bò ở Ấn Độ giáo hay kiêng thịt lợn ở Do Thái giáo) bắt nguồn thuần túy từ nguyên nhân sinh thái, kinh tế và an ninh lương thực.
- Quan điểm biểu tượng cấu trúc (Mary Douglas, 1966; Claude Lévi-Strauss, 1965) phản bác rằng cấm kỵ ẩm thực là sản phẩm của các trật tự phân loại nhận thức luận mang tính văn hóa thuần túy.
Luận án định vị mình ở giao điểm hòa giải hai trường phái trên: vừa chứng minh tính thích ứng sinh thái khắc nghiệt của vùng hạn hán Ninh Thuận, vừa giải mã cấu trúc biểu tượng độc đáo của hệ thống tín ngưỡng Chăm Ahiér. So với nghiên cứu của Nir Avieli (2012) tại Hội An về tính nam và phân tầng xã hội qua ẩm thực, hay nghiên cứu của Emiko Ohnuki-Tierney (1993) về biểu tượng gạo tại Nhật Bản, luận án này mở rộng lý thuyết sang một bối cảnh tộc người thiểu số duy trì thiết chế mẫu hệ kết hợp tàn dư đẳng cấp Bà la môn giáo và tín ngưỡng bản địa đa thần tại Đông Nam Á.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng lý thuyết nhân học biểu tượng và cấu trúc luận qua việc chỉ ra rằng ẩm thực Chăm Ahiér vận hành như một "văn bản văn hóa" (cultural text), trong đó các cặp đối lập nhị nguyên không chỉ mang tính trừu tượng mà được thể chế hóa cụ thể:
- Kéo dài và làm sâu sắc lý thuyết đối lập nhị nguyên của Claude Lévi-Strauss: Luận án chứng minh người Chăm Ahiér tổ chức toàn bộ thế giới quan ẩm thực dựa trên cặp lưỡng hợp Âm - Dương (Ahiér - Awal, Đực - Cái, Lửa - Nước, Biển - Rừng). Mọi món ăn và vật phẩm dâng cúng đều phải tuân thủ nghiêm ngặt nguyên lý cân bằng nhị nguyên để tái tạo sự hài hòa của vũ trụ.
- Thách thức tính phổ quát đơn tuyến của thuyết chức năng - cấu trúc của Radcliffe-Brown: Luận án chỉ ra rằng trong xã hội Chăm Ahiér, quyền lực và trật tự xã hội không phân chia theo trục đơn nhất mà là sự đan xen phức hợp giữa quyền lực tâm linh tôn giáo của nam giới (các chức sắc Thượng đẳng thần, thầy Pasis, thầy Pajei) và quyền lực kinh tế - huyết thống của nữ giới trong thiết chế mẫu hệ (Gahok).
- Đóng góp vào thuyết biểu tượng văn hóa của Leslie White và Clifford Geertz: Làm sáng tỏ luận điểm "thực chất của văn hóa là Symboling (năng lượng biểu tượng hóa)", chứng minh rằng từng hạt muối (sara), lá me (njam mưtai), cọng môn (njam labua) hay bánh tét (tei) đều là các biểu tượng ngưng đọng ký ức lịch sử tộc người và quan niệm tái sinh luân hồi.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án được xây dựng dựa trên sự tích hợp ba chiều kích phương pháp luận:
┌──────────────────────────────────────────┐
│ THỰC HÀNH ẨM THỰC CHĂM AHIÉR │
│ (Bữa ăn thường ngày & Nghi lễ tế tự) │
└────────────────────┬─────────────────────┘
│
┌─────────────────────────────┼─────────────────────────────┐
▼ ▼ ▼
┌──────────────────┐ ┌──────────────────┐ ┌──────────────────┐
│ CHỨC NĂNG LUẬN │ │ CẤU TRÚC LUẬN │ │ LÝ THUYẾT BIẾN ĐỔI│
│ (Sinh thái, Giới,│ │(Tư duy lưỡng hợp,│ │(Toàn cầu hóa, Đổi│
│ Thân tộc, Vị thế)│ │Biểu tượng, Cấm kỵ│ │ mới sinh kế, Giao│
│ [Malinowski, │ │ [Lévi-Strauss, │ │ lưu văn hóa) │
│ Audrey Richards]│ │ Mary Douglas] │ │ [Goody, Ohnuki] │
└────────┬─────────┘ └────────┬─────────┘ └────────┬─────────┘
│ │ │
└─────────────────────────────┼─────────────────────────────┘
▼
┌──────────────────────────────────────────┐
│ GIẢI MÃ VŨ TRỤ QUAN, NHÂN SINH QUAN, │
│ CẤU TRÚC XÃ HỘI & BẢN SẮC TỘC NGƯỜI │
└──────────────────────────────────────────┘
Khung phân tích thiết lập 4 điều kiện biên (boundary conditions):
- Điều kiện không gian: Vùng sinh thái đồng bằng bán khô hạn ven biển Nam Trung Bộ (huyện Ninh Phước).
- Điều kiện tộc người - tôn giáo: Nhóm cư dân Chăm Ahiér bảo lưu tín ngưỡng đa thần bản địa hòa quyện yếu tố Bà la môn giáo, đối sánh tương liên với Chăm Awal (Bàni) và Chăm Islam.
- Điều kiện xã hội: Thiết chế dòng họ mẫu hệ đang trong quá trình chuyển đổi dưới tác động của kinh tế thị trường.
- Điều kiện dữ liệu: Dữ liệu định tính đương đại (2017-2019) có so sánh hồi cố lịch sử qua thư tịch cổ (Akhar Thrah).
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được định vị vững chắc trên nền tảng Nhận thức luận kiến tạo diễn giải (Interpretivist / Constructivist Epistemology), sử dụng điểm nhìn của người trong cuộc (Emic perspective) kết hợp lăng kính phân tích của nhà nghiên cứu văn hóa học (Etic perspective).
Thiết kế nghiên cứu đa tầng (Multi-level Design) bao gồm 3 cấp độ khảo sát:
- Cấp độ vĩ mô (Macro-level): Bối cảnh sinh thái tự nhiên, hệ thống chính sách văn hóa - tôn giáo của nhà nước và mạng lưới giao thương vùng duyên hải.
- Cấp độ trung mô (Meso-level): Cấu trúc làng Chăm (Palei), các thiết chế tôn giáo đền tháp, hệ thống chức sắc tôn giáo và tổ chức dòng họ mẫu hệ (Kut).
- Cấp độ vi mô (Micro-level): Thực hành ẩm thực bữa ăn gia đình hằng ngày, tương tác giới trong gian bếp (pakak), và hành vi chuẩn bị lễ vật của các cá nhân trong nghi lễ vòng đời và lịch tiết.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Luận án tuân thủ quy trình điền dã dân tộc học chuẩn mực với các kỹ thuật thu thập dữ liệu cụ thể:
┌─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ QUY TRÌNH THU THẬP VÀ TAM GIÁC HÓA DỮ LIỆU ĐIỀN DÃ DÂN TỘC HỌC │
├─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┤
│ 1. ĐIỀN DÃ DÂN TỘC HỌC & QUAN SÁT THAM GIA (Thick Description - Geertz 1973)│
│ - 4 đợt điền dã (2017-2019), mỗi đợt 15-20 ngày tại 4 làng Chăm cổ. │
│ - Cùng sống, cùng đi chợ, nấu nướng, gói bánh, dự lễ Rija Nâgar & Katé. │
├─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┤
│ 2. PHỎNG VẤN SÂU (In-depth Interviews - N = 45) │
│ - Nhóm 1 (n=8): Cán bộ quản lý văn hóa, bảo tàng, chính quyền địa phương.│
│ - Nhóm 2 (n=12): Chức sắc Chăm (Cả sư Pasis, Po Adhia, Thầy Kadhar). │
│ - Nhóm 3 (n=25): Trưởng họ phụ nữ, phụ nữ nội trợ, trí thức bản địa. │
├─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┤
│ 3. KHẢO CỨU TƯ LIỆU THỨ CẤP & THƯ TỊCH CỔ (8 Thư viện chuyên ngành) │
│ - Văn bản Hán Nôm, thư tịch Chăm cổ (Akhar Thrah), báo cáo thống kê UBDT.│
├─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┤
│ 4. THAM VẤN CHUYÊN GIA (Expert Consultation) │
│ - Hội đồng chuyên gia Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Chăm Ninh Thuận. │
└─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┘
Nghiên cứu áp dụng kỹ thuật Mô tả dày (Thick Description của Clifford Geertz, 1973), ghi nhận chi tiết hành vi, lời nói, cử chỉ và bối cảnh của người thực hành văn hóa nhằm đảm bảo độ giá trị kiến tạo (Construct Validity) và độ giá trị nội tại (Internal Validity). Để vượt qua rào cản nghiên cứu viên nữ người Kinh tiếp cận không gian tôn giáo thiêng do nam giới phụ trách, tác giả đã thiết lập mạng lưới thông tín viên bản địa (key informants) và hợp tác với các nhà nghiên cứu nam giới đi trước để ghi hình và đối chiếu dữ liệu.
Data và phân tích
Dữ liệu dân tộc học được phân tích định tính chuyên sâu thông qua kỹ thuật phân tích diễn ngôn (Discourse Analysis) và phân tích cấu trúc - biểu tượng (Structural-Semiotic Analysis).
Mẫu khảo sát thực địa phản ánh đầy đủ cơ cấu dân cư của 4 làng Chăm Ahiér tiêu biểu:
- Làng Hữu Đức (Hamu Tanran): Trung tâm lễ hội tôn giáo, bảo lưu toàn vẹn hệ thống nghi lễ nông nghiệp.
- Làng Bàu Trúc (Hamu Crauk): Làng nghề gốm thủ công truyền thống lâu đời nhất Đông Nam Á, bảo lưu kỹ thuật nung ngoài trời và dụng cụ nấu nướng bằng đất nung.
- Làng Mỹ Nghiệp (Caklaing): Làng dệt thổ cẩm, nơi lưu giữ trang phục truyền thống và cấu trúc dòng họ mẫu hệ điển hình.
- Làng Như Bình (Pdara): Vùng thuần nông sản xuất lúa nước và chăn nuôi dê, cừu.
Độ tin cậy (Reliability) của dữ liệu được đảm bảo qua kiểm tra chéo (Cross-checking) giữa nguồn tư liệu văn bản lưu trữ tại Viện Dân tộc học, Thư viện Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện Khoa học Xã hội vùng Trung Bộ với lời kể dân gian và thực hành nghi lễ trực tiếp tại hiện trường.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Qua khảo sát thực địa dày dặn, luận án đã rút ra 5 phát hiện cốt lõi mang tính đột phá:
Thứ nhất, văn hóa ẩm thực Chăm Ahiér là sự đúc kết triệt để của tri thức bản địa thích ứng sinh thái khô hạn. Ngạn ngữ Chăm có câu trích dẫn từ thực địa: "Paik njam di glai mbang ka, njam di paga caik mbang lawik" (Hái rau rừng ăn đã nào, rau trên hàng rào hãy để ăn sau). Người Chăm phân loại cụ thể các loại rau rừng (Caduk) dùng để nấu canh (njam mbat, njem leng, labung, njam nyet, njem kakiak) hoặc ăn sống theo nguyên lý nhận diện màu sắc đọt non: đọt non màu đỏ (pa-aok, tanung, taduk tang) ăn được an toàn, đọt xanh (taduk girak, taduk jaip) phải cẩn trọng kiểm tra. Đặc biệt, người Chăm ưa chuộng các món canh chua nấu lá me (njam mưtai) để giải nhiệt và cân bằng điện giải giữa vùng đất nắng nóng khắc nghiệt.
Thứ two, ẩm thực nghi lễ vận hành theo cấu trúc phân loại biểu tượng nhị nguyên nghiêm ngặt giữa nghi lễ vòng đời và nghi lễ lịch tiết. Trong nghi lễ đầu năm Rija Nâgar và lễ hội Katé, vật phẩm dâng cúng bắt buộc phải là gia súc, gia cầm đực và mang tính dương (thịt dê, gà trống luộc). Ngược lại, trong tang lễ và nghi lễ hỏa táng (Đám thiêu), người Chăm Ahiér cấm kỵ tuyệt đối việc dâng cúng động vật đẻ con mà chỉ cúng động vật đẻ trứng (gà, cá) và món canh rau môn (njam labua). Tác giả trích dẫn lời giải thích của các vị chức sắc: rau môn là biểu tượng của sự thanh sạch và sức sống sinh sôi mạnh mẽ, dâng canh rau môn gửi gắm niềm tin về sự tái sinh luân hồi linh hồn người chết vào cõi vĩnh hằng.
Thứ ba, sự phân biệt đẳng cấp và vị thế xã hội được thể chế hóa qua chất liệu và quy tắc sử dụng đồ dùng ăn uống. Thầy pháp sử dụng đũa tre, chức sắc tôn giáo dùng đũa gỗ mun bịt bạc, tầng lớp quý tộc xưa dùng đũa mun hoặc đũa ngà voi, còn thường dân dùng đũa tre thông thường. Thành ngữ Chăm phản ánh sâu sắc sự phân tầng này:
"Mbang owk bbang lipa - Ăn đói ăn khát, ăn để cầm hơi.
Mbang mưthin mbang xara - Ăn mắm, ăn muối, lấy thảo.
Mbang jan gok jan glah - Ăn đập nồi đập niêu.
Mbang lisei hok kamang jruh - Ăn cơm vãi, cơm thừa canh cặn.
Mbang ngok dok dahlau - Ăn trên ngồi trước."
Thứ tư, phát hiện sự phân công lao động giới mang tính nhị quyền (Dual Gender Power). Trong bữa ăn hằng ngày, phụ nữ nắm giữ toàn bộ quyền lực kinh tế và điều phối gian bếp gia đình (Gahok). Tuy nhiên, trong không gian nghi lễ thiêng liêng (như trên tháp Po Klong Garai, Po Rome hay lễ Rija Nâgar), nam giới và các chức sắc tôn giáo lại đóng vai trò chủ đạo trong việc giết mổ gia súc, dâng cúng và thụ hưởng mâm cúng đầu tiên, thể hiện sự thỏa hiệp và cân bằng quyền lực giới tinh tế.
Thứ năm, kiêng cữ bóng đêm và quy chuẩn ứng xử cộng cảm tâm linh. Chức sắc Chăm Ahiér kiêng ăn uống trong bóng đêm vì quan niệm bóng tối đồng lõa với ma quỷ (abiléh); nếu đèn tắt giữa bữa ăn, họ sẽ lập tức buông đũa dừng bữa. Trong bữa ăn, việc giữ im lặng nhằm tránh kinh động đến thần lúa gạo Po Yang Sri, bảo vệ sự bình an của gia quyến và mùa màng tươi tốt.
Implications đa chiều
- Về mặt lý thuyết: Nghiên cứu đóng góp một trường hợp điển hình vào lý thuyết nhân học ẩm thực Đông Nam Á, chứng minh rằng cấu trúc bữa ăn phản ánh mô hình tổ chức xã hội đa thần giáo kết hợp tàn dư mẫu hệ, cung cấp chất liệu khoa học bổ sung vào kho tàng lý thuyết nhân học biểu tượng toàn cầu.
- Về mặt phương pháp luận: Luận án cung cấp bộ công cụ phỏng vấn sâu và quy trình điền dã kết hợp mô tả dày của Geertz trong việc tiếp cận các cộng đồng tộc người có hệ thống cấm kỵ tôn giáo khắt khe.
- Về mặt thực tiễn và chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học để Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Thuận xây dựng đề án bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, tích hợp văn hóa ẩm thực Chăm vào phát triển du lịch di sản bền vững tại hai làng nghề Bàu Trúc và Mỹ Nghiệp.
- Điều kiện khái quát hóa (Generalizability): Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng đối sánh trực tiếp với các nhóm Chăm Awal (Bàni) tại Bình Thuận, Chăm Islam tại An Giang, Tây Ninh cũng như các cộng đồng ngữ hệ Nam Đảo (Austronesian) khác ở Đông Nam Á như người Êđê, Gia Rai, Mã Lai và Indonesia.
Limitations và Future Research
Nghiên cứu thẳng thắn thừa nhận các giới hạn học thuật:
- Giới hạn về không gian địa lý: Nghiên cứu chỉ tập trung tại 4 làng Chăm Ahiér thuộc huyện Ninh Phước, chưa mở rộng so sánh định lượng với cộng đồng Chăm Ahiér tại huyện Thuận Nam, Ninh Hải (Ninh Thuận) hoặc huyện Bắc Bình, Tuy Phong (tỉnh Bình Thuận).
- Rào cản tiếp cận giới tính và tôn giáo: Do tác giả là phụ nữ người Kinh, việc quan sát trực tiếp một số nghi thức hiến tế bí truyền ở khu vực tháp thiêng tối cao do các Cả sư Pasis nam giới thực hiện còn gặp những hạn chế nhất định, phải phụ thuộc một phần vào lời kể hồi cố và hình ảnh do đồng nghiệp nam ghi lại.
- Thiếu vắng phân tích định lượng dinh dưỡng học: Chưa có dữ liệu phân tích hóa thực phẩm về hàm lượng dinh dưỡng và vi chất của các loại rau rừng Chăm để chứng minh giá trị y sinh học lâm sàng.
Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):
- Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu văn hóa ẩm thực giữa ba nhóm Chăm Ahiér (Bà la môn), Chăm Awal (Bàni) và Chăm Islam (Hồi giáo chính thống) để xây dựng bản đồ ẩm thực tộc người Chăm toàn diện.
- Khảo sát sự biến đổi khẩu vị và thói quen tiêu dùng thức ăn nhanh (fast food), công nghiệp hóa thực phẩm trong giới trẻ Chăm đô thị hóa.
- Ứng dụng phương pháp nhân học thị giác (Visual Anthropology) ghi hình toàn bộ quy trình chuẩn bị lễ vật trong các đại lễ vòng đời có nguy cơ mai một.
Tác động và ảnh hưởng
Luận án tạo ra tác động học thuật và thực tiễn rõ rệt:
- Tác động học thuật: Trở thành tài liệu tham khảo chuẩn mực trong đào tạo sau đại học ngành Văn hóa học, Nhân học và Dân tộc học tại Học viện Khoa học Xã hội, Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM. Dự kiến đóng góp hàng chục trích dẫn khoa học cho các công trình nghiên cứu văn hóa Champa và Đông Nam Á học.
- Chính sách văn hóa: Cung cấp cơ sở khoa học để chính quyền tỉnh Ninh Thuận và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng hồ sơ công nhận các tri thức dân gian về ẩm thực Chăm là Di sản Văn hóa Phi vật thể Quốc gia.
- Kinh tế - Xã hội và Du lịch: Đóng góp giải pháp phát triển du lịch ẩm thực (Culinary Tourism) gắn với làng gốm Bàu Trúc (đã được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp năm 2022), tạo sinh kế bền vững cho người dân địa phương.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tiếp cận nguồn tư liệu dân tộc học gốc vô cùng phong phú, học hỏi phương pháp điền dã mô tả dày và khung phân tích tích hợp chức năng - cấu trúc.
- Các giáo sư, nhà nghiên cứu văn hóa: Có thêm nguồn luận cứ xác thực để đối chiếu về hệ thống biểu tượng tôn giáo và thiết chế mẫu hệ Chăm.
- Các nhà hoạch định chính sách và quản lý di sản: Sở hữu luận cứ thực tiễn để xây dựng chính sách dân tộc, tôn giáo và bảo tồn tri thức bản địa theo quan điểm tôn trọng đa dạng văn hóa.
- Doanh nghiệp du lịch và cộng đồng Chăm bản địa: Khai thác các món ăn truyền thống thành sản phẩm du lịch đặc thù, nâng cao giá trị gia tăng cho các sản phẩm nông nghiệp và làng nghề địa phương.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?
Trả lời: Luận án đã mở rộng lý thuyết Cấu trúc luận của Claude Lévi-Strauss và Thuyết biểu tượng của Mary Douglas bằng cách chứng minh hệ thống ẩm thực Chăm Ahiér là một cấu trúc lưỡng hợp hoàn chỉnh phản ánh vũ trụ quan nhị nguyên (Ahiér/Awal, Dương/Âm, Biển/Rừng, Đực/Cái). Điểm đột phá là nghiên cứu chỉ ra sự tương thích giữa trật tự dâng cúng ẩm thực với trật tự luân hồi tái sinh của linh hồn trong tín ngưỡng đa thần bản địa hòa quyện Hindu giáo.
2. Điểm mới về mặt phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây là gì?
Trả lời: So với các nghiên cứu mô tả dân tộc học đơn thuần của George Condominas (1957) hay cách tiếp cận sinh thái học thuần túy của Evans-Pritchard (1940), luận án này áp dụng phương pháp Mô tả dày (Thick Description) kết hợp phân tích tam giác hóa dữ liệu (quan sát tham gia sâu suốt 3 năm, phỏng vấn sâu 45 đối tượng đa tầng, đối chiếu thư tịch cổ Chăm và tham vấn chuyên gia), đặt thực hành ẩm thực vào đúng bối cảnh văn hóa của người trong cuộc (Emic approach).
3. Phát hiện nào trong luận án gây bất ngờ nhất và có dữ liệu chứng minh ra sao?
Trả lời: Phát hiện bất ngờ nhất là sự đối lập tuyệt đối trong việc lựa chọn lễ vật giữa nghi lễ hỏa táng và nghi lễ lịch tiết. Trong khi lễ hội Katé và Rija Nâgar chuộng cúng thịt dê và gà trống thiến, thì lễ hỏa táng kiêng cúng toàn bộ động vật đẻ con và bắt buộc phải cúng món canh rau môn rừng (njam labua) cùng cá, gà đẻ trứng. Dữ liệu phỏng vấn sâu chức sắc chỉ ra rằng rau môn tượng trưng cho sự thanh sạch nguyên thủy và khả năng đâm chồi sinh sôi, bảo đảm cho người chết được tái sinh trở lại trần gian.
4. Nghiên cứu có cung cấp giao thức tái lặp (Replication Protocol) hay không?
Trả lời: Luận án cung cấp bảng hỏi phỏng vấn sâu chi tiết, tiêu chí lựa chọn địa bàn 4 làng Chăm cổ truyền, danh mục phân loại thực vật bản địa và quy trình thu thập dữ liệu điền dã dân tộc học rõ ràng, cho phép các nhà nghiên cứu khác áp dụng tái lặp trên các cộng đồng Chăm Awal hoặc Chăm Islam ở các địa phương khác.
5. Luận án đã phác thảo chương trình nghiên cứu 10 năm tới như thế nào?
Trả lời: Tác giả định hướng lộ trình 10 năm mở rộng khảo cứu liên ngành giữa Văn hóa học - Dân tộc thực vật học (Ethnobotany) và Xã hội học dinh dưỡng, tập trung giải mã dược tính của các loài rau rừng Chăm và phân tích sự chuyển dịch cấu trúc mâm cơm gia đình Chăm trong bối cảnh hiện đại hóa nông thôn mới.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Trần Thị Thái đã xác lập một dấu mốc học thuật quan trọng trong nghiên cứu văn hóa tộc người Chăm tại Việt Nam với 6 đóng góp cụ thể:
- Hệ thống hóa toàn diện và khoa học bức tranh văn hóa ẩm thực Chăm Ahiér từ đời sống thường nhật đến nghi lễ vòng đời và lễ tiết nông nghiệp.
- Giải mã thành công hệ thống biểu tượng văn hóa và tư duy lưỡng hợp ẩn sâu sau các món ăn, vật phẩm hiến tế và quy chuẩn kiêng kỵ tôn giáo.
- Làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa ẩm thực với cấu trúc phân tầng xã hội, thiết chế mẫu hệ và sự phân công lao động giới.
- Minh chứng sống động cho khả năng thích ứng sinh thái kỳ diệu của cư dân bản địa thông qua tri thức khai thác thực vật rừng và nguồn lợi sông ngòi vùng khô hạn.
- Mở ra hướng tiếp cận liên ngành mới trong nghiên cứu văn hóa học: coi ẩm thực là thực hành xã hội chủ động kiến tạo bản sắc thay vì chỉ là sự phản chiếu thụ động trật tự sinh học.
- Cung cấp hệ thống luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc phục vụ công tác bảo tồn di sản, thực thi chính sách đa dạng văn hóa và phát triển kinh tế du lịch bền vững tại tỉnh Ninh Thuận.