Tổng quan luận án
Văn hóa ẩm thực là một thành tố phản ánh điều kiện tự nhiên, phương thức thích ứng sinh thái, cùng các tầng bậc biểu đạt và kiến tạo văn hóa của mỗi tộc người. Theo số liệu của Ủy ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê năm 2019, người Chăm tại tỉnh Ninh Thuận có dân số 67.517 người, đông nhất cả nước. Nhóm Chăm Ahiér (còn gọi là Chăm Bà la môn) là một trong những cộng đồng cư trú tập trung với số lượng đông đảo tại huyện Ninh Phước. Người Chăm Ahiér duy trì một hệ thống tín ngưỡng bản địa kết hợp với các yếu tố Hindu giáo, bảo lưu hệ thống nghi lễ vòng đời và nghi lễ lịch tiết phong phú.
Mặc dù văn hóa Chăm đã được tiếp cận qua nhiều khía cạnh như lịch sử, dân số học, quan hệ hôn nhân, tổ chức xã hội và tôn giáo tín ngưỡng, song các thực hành ăn uống chưa từng được xem xét như một đối tượng nghiên cứu độc lập dưới góc nhìn văn hóa học. Luận án "Văn hóa ẩm thực của người Chăm Ahiér ở huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận" của tác giả Trần Thị Thái giải quyết khoảng trống này bằng cách phân tích ẩm thực như một hệ thống biểu đạt phản chiếu vũ trụ quan, nhân sinh quan và cấu trúc xã hội của cộng đồng.
Mục đích nghiên cứu của luận án là giải mã các khía cạnh văn hóa và xã hội của người Chăm Ahiér thông qua ẩm thực. Luận án tập trung giải quyết hai câu hỏi nghiên cứu:
- Thực hành văn hóa ẩm thực trong đời sống thường ngày và trong nghi lễ của người Chăm Ahiér diễn ra như thế nào?
- Các thực hành văn hóa ẩm thực đó phản ánh gì về vũ trụ quan, nhân sinh quan và quan hệ xã hội của người Chăm Ahiér?
Để đạt được mục đích trên, luận án đặt ra bốn nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng hợp, phân tích tài liệu thành văn có liên quan, xây dựng khung lý thuyết định hướng và lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp.
- Mô tả và phân tích thực hành văn hóa ẩm thực của người Chăm Ahiér trong đời sống thường ngày và trong nghi lễ.
- Phân tích các đặc điểm về vũ trụ quan, nhân sinh quan và quan hệ xã hội thông qua các thực hành ẩm thực.
- Trao đổi, bàn luận về các giá trị văn hóa Chăm được lưu giữ qua ẩm thực.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là ẩm thực trong đời sống thường ngày và trong nghi lễ của người Chăm Ahiér tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận trong giai đoạn hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên ba phương diện:
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào cơ cấu, cách chuẩn bị, tổ chức bữa ăn thường ngày tại gia đình, ăn uống ngoài gia đình, các kiêng cữ liên quan; cơ cấu lễ vật, cách chuẩn bị và tổ chức ăn uống trong 4 nghi lễ tiêu biểu gồm lễ năm mới Rija Nâgar, lễ hội Katé, lễ cưới và nghi lễ hỏa táng.
- Phạm vi không gian: Thực hiện tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, khảo sát chuyên sâu tại 4 làng Chăm truyền thống: Hữu Đức (Hamu Tanran), Bàu Trúc (Hamu Crauk), Mỹ Nghiệp (Caklaing) và Như Bình (Dara / Pdara).
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực hành ẩm thực trong xã hội đương đại (tư liệu điền dã thu thập từ năm 2017 đến năm 2019), có so sánh hồi cố với ẩm thực truyền thống.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và tổng quan các công trình nghiên cứu ẩm thực trong nước và quốc tế theo ba hướng tiếp cận lý thuyết chính:
-
Nghiên cứu ẩm thực từ góc độ chức năng luận:
- Các học giả nhân học kinh điển như Bronislaw Malinowski nghiên cứu cư dân quần đảo Trobriand, phân loại thức ăn thành 3 nhóm (thức ăn chính, thức ăn nhẹ, cao lương mỹ vị) gắn với quan hệ quyền lực và dòng họ; Audrey Richards nghiên cứu người Bantu và Bemba, phân tích các giai đoạn chế biến, chuẩn bị, tiêu thụ thức ăn gắn với chu kỳ đời sống; E. E. Evans-Pritchard nghiên cứu xã hội người Nuer qua mối liên hệ giữa vật nuôi, sinh thái và cấu trúc phụ hệ; Georges Condominas mô tả phương thức tìm kiếm thức ăn và canh tác của người Mnông trong "Chúng tôi ăn rừng".
- Tác giả Peter Farb và George Armelagos ("Niềm đam mê và thụ hưởng") phân tích chức năng xã hội, vai trò của giới và các mã văn hóa của ẩm thực. Nir Avieli phân tích cơ cấu bữa ăn cơm - rau - cá tại Hội An gắn với sinh thái nông nghiệp và sông nước. Trần Quốc Vượng, Nguyễn Thị Bảy, Ngô Đức Thịnh nghiên cứu cơ cấu bữa ăn truyền thống mang đậm dấu ấn văn minh thực vật của người Việt. Vương Xuân Tình nghiên cứu ẩm thực vùng Kinh Bắc với việc thống kê 102 nguyên liệu thực vật, phân tích thế ứng xử cộng đồng và phân tầng vị thế xã hội qua mâm cỗ.
- Về khía cạnh giới và vị thế xã hội trong ăn uống, luận án điểm lại các công trình của Roland Barthes, Pierre Bourdieu, Kahn, Nguyễn Từ Chi (nghiên cứu tổ chức giáp làng xã Bắc Bộ), Nguyễn Xuân Kính (dẫn lại Phan Thuận An và Tôn Thất Bình về nghi thức ẩm thực cung đình triều Nguyễn), và Thập Liên Trưởng (về sự phân chia đẳng cấp, việc dùng đũa tre, đũa mun bịt bạc, đũa ngà của người Chăm).
-
Nghiên cứu ẩm thực từ góc độ cấu trúc luận:
- Claude Lévi-Strauss ("Nhân học cấu trúc") xây dựng mô hình "Tam giác ẩm thực", phân tích sự chuyển đổi từ tự nhiên sang văn hóa qua các cặp đối lập nhị nguyên sống - chín, luộc - nướng - hun khói. Mary Douglas phân tích cấu trúc bữa ăn gia đình, mã hóa xã hội và hệ thống kiêng kỵ thực phẩm của người Do Thái, người Lele.
- Marvin Harris giải thích các bí ẩn kiêng kỵ tôn giáo (kiêng ăn thịt bò ở Ấn Độ, kiêng thịt heo ở Do Thái) dựa trên nền tảng kinh tế, sinh thái và dinh dưỡng. S. J. Tambiah nghiên cứu phân loại ẩm thực tại Thái Lan; Marshall Sahlins bàn về tiêu thụ thịt ở Mỹ; Trần Thị Kim Oanh nghiên cứu tính biểu tượng của thực phẩm người Hoa Quảng Đông tại Thành phố Hồ Chí Minh. Bố Xuân Hổ nghiên cứu ý nghĩa món muối hột, canh rau môn, thịt gà, thịt dê trong tang lễ Chăm Ahiér.
-
Nghiên cứu ẩm thực từ góc độ phát triển:
- Emiko Ohnuki-Tierney ("Rice as Self") phân tích lịch sử biểu tượng hạt gạo trong kiến tạo bản sắc người Nhật; Jack Goody phân tích sự biến đổi của ẩm thực châu Phi dưới tác động giao lưu với Anh; Stephen Mennell nghiên cứu sự biến đổi khẩu vị và chuẩn mực ăn uống ở Anh và Pháp từ thời trung cổ; Sidney Mintz nghiên cứu lịch sử đường và bối cảnh văn hóa - kinh tế của các biểu tượng thực phẩm; David và Sydney nghiên cứu sự thích ứng của ẩm thực Trung Quốc trong bối cảnh toàn cầu hóa.
-
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết:
Các nghiên cứu trước đây về người Chăm chủ yếu tập trung vào lịch sử, tôn giáo, ngôn ngữ, kiến trúc đền tháp hoặc chỉ dừng lại ở việc liệt kê sơ lược món ăn trong mô tả dân tộc học chung. Luận án này là công trình chuyên biệt đầu tiên tiếp cận ẩm thực Chăm Ahiér một cách hệ thống dưới góc nhìn văn hóa học, sử dụng phương pháp luận nhân học để giải mã ý nghĩa biểu tượng, cấu trúc nhị nguyên và quan hệ xã hội từ điểm nhìn của chính người trong cuộc (tiếp cận emic).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án làm rõ và sử dụng 4 khái niệm then chốt:
- Ẩm thực: Hoạt động ăn và uống nhằm duy trì sự sống, đồng thời là phương tiện biểu đạt các quan hệ xã hội và giá trị văn hóa.
- Văn hóa ẩm thực: Tập hợp các tập quán, phương thức chế biến, cơ cấu bữa ăn, quy tắc ứng xử, nghi thức tổ chức, kiêng kỵ và ý nghĩa biểu tượng tâm linh gắn liền với ăn uống của một cộng đồng.
- Thế giới quan: Hệ thống quan niệm của con người về tự nhiên, không gian, thời gian và vị trí của con người trong vũ trụ (bao gồm vũ trụ quan).
- Nhân sinh quan: Hệ thống quan điểm, triết lý về cuộc đời, ý nghĩa sự sống, cái chết và cuộc sống sau cái chết của con người.
Khung lý thuyết phân tích của luận án kết hợp ba lý thuyết nền tảng:
- Lý thuyết chức năng (A. R. Radcliffe-Brown, Emile Durkheim): Xem xét ẩm thực như một thiết chế văn hóa duy trì cấu trúc xã hội, phân công lao động theo giới, gắn kết quan hệ thân tộc và thể hiện vị thế của các thành viên trong gia đình và làng xóm.
- Lý thuyết cấu trúc (Claude Lévi-Strauss): Sử dụng mô hình đối lập nhị nguyên để giải mã các tầng nghĩa biểu tượng đằng sau các cặp yếu tố trong ẩm thực (âm - dương, sống - chín, nóng - lạnh, đực - cái, thần linh - tổ tiên).
- Lý thuyết phát triển: Giải thích sự biến đổi trong tập quán ăn uống, sự tiếp nhận nguyên liệu và phương thức chế biến mới của người Chăm dưới tác động của kinh tế thị trường và giao lưu văn hóa.
Luận án sử dụng 3 phương pháp nghiên cứu chính:
- Phương pháp điền dã dân tộc học (phương pháp chủ đạo):
- Quan sát tham gia: Tác giả trực tiếp cùng người dân đi chợ, làm bếp, gói bánh, chuẩn bị lễ vật và tham dự bữa ăn thường ngày cũng như các dịp lễ hội tại 4 làng Chăm.
- Phỏng vấn sâu: Thực hiện đối với 3 nhóm đối tượng: cán bộ quản lý văn hóa (thu thập dữ liệu kinh tế - xã hội địa phương), các chức sắc tôn giáo Chăm (giải mã quy tắc lễ tục, ý nghĩa biểu tượng của lễ vật), và người dân trực tiếp thực hành văn hóa (tìm hiểu nhận thức, quan niệm của người trong cuộc).
- Mô tả dày (Thick description theo Clifford Geertz, 1973): Ghi chép chi tiết, sâu chuỗi hành vi và bối cảnh diễn xướng văn hóa ẩm thực. Điền dã được tiến hành định kỳ trong giai đoạn 2017-2019, tập trung vào dịp lễ Rija Nâgar (tháng 4-5) và Katé (tháng 9-10), mỗi đợt kéo dài tối thiểu 15 ngày.
- Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Thu thập, đối sánh tư liệu từ văn bản cổ, báo cáo chính sách và công trình nghiên cứu tại 8 thư viện: Thư viện Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ, Thư viện Tổng hợp Đà Nẵng, Thư viện Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Chăm Ninh Thuận, Thư viện Học viện Khoa học xã hội, Thư viện Viện Thông tin Khoa học xã hội, Thư viện Viện Dân tộc học, Thư viện Viện Nghiên cứu Văn hóa, Thư viện Quốc gia Việt Nam.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến của các nhà nghiên cứu người Chăm và chuyên viên giàu kinh nghiệm thực địa tại Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Chăm tỉnh Ninh Thuận.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và địa bàn nghiên cứu
Chương này trình bày cơ sở lý thuyết, điểm luận tài liệu và khảo sát bối cảnh tự nhiên, kinh tế, xã hội tại địa bàn nghiên cứu.
Huyện Ninh Phước nằm ở phía nam tỉnh Ninh Thuận, có diện tích gồm 8 xã và 1 thị trấn; dân số 145.835 người (người Kinh chiếm 66,4%, người Chăm chiếm 30,3%, người Raglai chiếm 2,8%, người Hoa chiếm 0,5%). Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa (tháng 9 đến tháng 11) và mùa khô (tháng 12 đến tháng 8 năm sau). Địa hình lòng chảo khô hạn, lượng mưa thấp nhất cả nước nhưng có đất phù sa ven các hệ thống sông Dinh, sông Lu, sông Quao.
Cộng đồng Chăm Ninh Phước có nền kinh tế nông nghiệp lúa nước phát triển lâu đời với kỹ thuật dẫn thủy nhập điền, làm đập đào mương ("Pagan kraong bek banek kuec rabaong ngap hamu"). Nguồn lương thực thực phẩm được khai thác từ trồng trọt, chăn nuôi, làm vườn và thu hái tự nhiên:
| Nhóm tài nguyên ẩm thực |
Tên gọi tiếng Chăm / Phân loại cụ thể |
Đặc điểm và phương thức sử dụng |
| Lúa nước dài ngày (Padai Halim, vụ chính 5-6 tháng) |
Aia Pariak, Aia mâ-uec, Câng rit, Candung, Iku praok |
Lúa hạt trắng, cứng hoặc dẻo, dùng nấu cơm chính trong năm |
| Lúa nước ngắn ngày (Padai bariéng, vụ phụ 4 tháng) |
Bariéng |
Lúa hạt đỏ, cơm cứng |
| Lúa nếp (chân ruộng nước, 6 tháng) |
Ndiép lak (nếp đỏ), Ndiép amraik kalu (nếp hồ tiêu) |
Hạt trắng hoặc đỏ, dẻo và thơm, dùng làm các loại bánh lễ |
| Cây trồng trên rẫy (Apuh) |
Đậu ván, đậu xanh, đậu phộng; Bắp gạo (tangey brah), bắp nếp (tangey ndiép); Bầu (kadaoh), bí, khổ qua (hamia) |
Cung cấp hoa màu, lương thực phụ |
| Cây trồng vườn nhà (Pakak) |
Cà (traong), mướp (bayên), mồng tơi (njam leng); Sả (plang), ớt (amraik), nghệ (kanyik), gừng (laya); Chuối |
Trồng ở khoảng sân phía Đông - Nam; thân chuối non dùng làm gỏi (laba), rau ghém (gaim) |
| Rau rừng nấu canh |
Njam mbat (chùm bát), njem leng (mồng tơi), labung (măng), njam nyet (rau đay), njem kakiak (rau ngót), njam heng (súng), njam labua (môn), njam phik (rau đắng), njam dalong (rau sam) |
Hái ở rừng, ao ruộng hoặc bãi cát ven sông để giải nhiệt mùa hè |
| Rau rừng ăn sống (Caduk) |
Pa-aok (xoài), tanung (lộc vừng), taduk tang (cốc đắng), taduk girak (lim non), taduk jaip (táo nhơn / bình tinh) |
Đọt non màu đỏ hái tự nhiên; đọt lim ăn với thịt chuột nướng, đọt táo nhơn ăn với mắm cái |
| Vật nuôi |
Trâu (kabaw), bò (limaow), dê (pabaiy), gà (mânuk), vịt (ada), ngan (ada siém), ngỗng (angân), bồ câu (katruw) |
Phục vụ sức kéo nông nghiệp và làm lễ vật dâng cúng |
Về mặt văn hóa - xã hội, người Chăm ở Ninh Thuận gồm 4 nhóm: Chăm Jat (nhóm gốc bản địa, không chịu ảnh hưởng tôn giáo ngoại lai), Chăm Ahiér (Chăm Bà la môn, hỏa táng khi chết, kiêng thịt bò), Chăm Awal (Chăm Bàni, chôn cất khi chết, kiêng thịt heo), và Chăm Islam (Hồi giáo chính thống). Người Chăm Ahiér huyện Ninh Phước cư trú theo làng (plei, quy mô 300-400 hộ), theo chế độ mẫu hệ, bảo lưu nghề dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp (Caklaing) và nghề gốm Bàu Trúc (Hamu Crauk).
Chương 2: Ẩm thực trong đời sống thường ngày
Chương 2 mô tả và phân tích các phương diện ẩm thực thường nhật của người Chăm Ahiér:
- Cơ cấu bữa ăn: Bữa ăn truyền thống dựa trên trục cơ bản cơm - canh - mắm/cá kho. Do đặc thù khí hậu khô nóng, người Chăm đặc biệt ưa chuộng các món canh, điển hình là canh chua nấu lá me non hoặc quả me để cân bằng thân nhiệt. Phương thức chế biến thiên về luộc và nướng, ít dùng món chiên xào nhiều dầu mỡ.
- Chuẩn bị và tổ chức bữa ăn: Phụ nữ đóng vai trò chủ đạo trong việc quán xuyến bếp núc, chọn mua nguyên liệu, nấu nướng và bày biện mâm cơm. Trong bữa ăn gia đình, vị trí ngồi phản ánh trật tự gia đình: người cao tuổi, ông, cha ngồi ở đầu mâm (nơi trang trọng); phụ nữ và con cháu ngồi ở cuối mâm (gần nồi cơm và thức ăn để phục vụ). Khi nhà có khách, nam và nữ thường ngồi tách mâm riêng biệt.
- Kiêng cữ thường ngày: Xuất phát từ niềm tin tâm linh, người Chăm Ahiér kiêng ăn uống trong bóng tối vì quan niệm bóng tối đồng lõa với ma quỷ (abiléh); nếu đèn tắt khi đang ăn, bữa ăn phải dừng lại. Trong khi ăn kiêng to tiếng cãi vã nhằm tránh làm phật lòng thần linh (Pô Yang Sri), bảo vệ sự may mắn và mùa màng của gia đình.
- Ăn uống bên ngoài gia đình: Phân tích sự xuất hiện của các hình thức hàng quán, dịch vụ ẩm thực mới trong bối cảnh kinh tế thị trường, cho thấy sự mở rộng không gian ăn uống và biến đổi trong tương tác xã hội của cư dân.
Chương 3: Ẩm thực trong nghi lễ
Chương 3 khảo sát cơ cấu lễ vật, quy trình chuẩn bị và quy tắc kiêng kỵ trong 4 nghi lễ trọng đại:
- Nghi lễ Rija Nâgar (lễ đầu năm mới): Lễ vật dâng cúng quy định nghiêm ngặt gồm gà và dê, tuyệt đối không cúng các động vật khác.
- Lễ hội Katé: Nghi lễ cộng đồng quy mô lớn tại các đền tháp và gia đình, dâng cúng các sản vật nông nghiệp tự canh tác như dê, gà, cơm, canh, bánh trái, trầu cau, rượu, hoa quả để tạ ơn các vị thần linh, vua thần và tổ tiên (muk key, trauk patra).
- Ẩm thực trong lễ cưới: Thể hiện sự chuẩn bị công phu của họ hàng hai bên, gắn kết quan hệ thân tộc dòng mẹ và thiết chế hôn nhân mẫu hệ.
- Ẩm thực trong nghi lễ hỏa táng: Có cơ cấu thức cúng rất đặc thù:
- Chỉ cúng các loài động vật đẻ trứng (gà, cá), tuyệt đối kiêng cúng động vật sinh con (mang thai) vì lo ngại người chết không có cơ hội tái sinh, đầu thai làm người.
- Canh rau môn (njam labua) là món bắt buộc, biểu trưng cho sự tinh khiết, sạch sẽ và sức sống sinh sôi nảy nở, gửi gắm ước nguyện người quá cố được tái sinh thuận lợi để nối dòng.
- Muối hột: Các sư thầy thực hiện nghi thức nếm tượng trưng hạt muối trước và sau khi hành lễ để tạ ơn các vị thần Pô Kuk, Pô Nagar và thần Muối, cầu xin sự phù trợ cho nghi lễ.
- Thịt dê chỉ được sử dụng trong các lễ giỗ đầy tháng, giáp năm hoặc 3 năm (khi đứa trẻ được tin là đã đầu thai trọn vẹn lên thượng giới).
- Kiêng kỵ trong dâng cúng: Người Chăm Ahiér kiêng tuyệt đối việc dâng cúng thịt bò do tiếp thu dấu ấn tôn kính bò thần từ Hindu giáo; các vật nuôi làm lễ vật phải toàn vẹn, khỏe mạnh, được chuẩn bị thuần khiết.
Chương 4: Văn hóa của người Chăm Ahiér qua ẩm thực và một số bàn luận
Chương 4 nâng các tư liệu thực nghiệm lên tầm diễn giải lý thuyết:
- Vũ trụ quan và nhân sinh quan:
- Tư duy lưỡng hợp (cấu trúc nhị nguyên): Thể hiện rõ nét qua sự phân định lễ vật cúng cho thần linh Thượng giới (phần Ahiér - cúng dê, gà) và thần linh Hạ giới/tổ tiên; sự kết hợp hài hòa giữa các cặp yếu tố âm - dương, nóng - lạnh trong cách nêm nếm gia vị và lựa chọn thức ăn theo mùa.
- Tính biểu tượng: Tên gọi, hình dáng, màu sắc và số lượng lễ vật mang thông điệp cầu mong mùa màng tốt tươi, dòng họ trường tồn và sự tái sinh linh hồn.
- Ẩm thực phản ánh quan hệ xã hội:
- Vị thế xã hội: Thể hiện qua sự phân cấp thụ hưởng mâm cỗ và công cụ ăn uống. Chức sắc tôn giáo ngồi chiếu riêng, dọn mâm 2 hoặc 4 người; việc sử dụng đũa phân định rõ thứ bậc (thầy pháp dùng đũa tre, chức sắc tôn giáo dùng đũa mun bịt bạc, người có chức quyền dùng đũa mun hoặc đũa ngà, thường dân dùng đũa tre).
- Quan hệ giới: Trong gia đình mẫu hệ, phụ nữ giữ quyền quản lý lương thực, bếp núc thường nhật; tuy nhiên trong không gian nghi lễ trang nghiêm tại đền tháp, nam giới và chức sắc tôn giáo đảm nhận khâu hành lễ cúng tế, trong khi phụ nữ phụ trách công việc chuẩn bị hậu cần ở vòng ngoài.
- Biến đổi văn hóa ẩm thực: Dưới tác động của hiện đại hóa, nhiều nguyên liệu công nghiệp, dịch vụ nấu cỗ thuê và các phương thức chế biến mới xuất hiện, làm thay đổi cấu trúc ẩm thực truyền thống nhưng các yếu tố cốt lõi của ẩm thực nghi lễ vẫn được duy trì bền vững.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án hệ thống hóa các khái niệm, khung lý thuyết văn hóa học và nhân học ẩm thực áp dụng vào một tộc người thiểu số cụ thể tại Việt Nam.
- Khẳng định ẩm thực không chỉ là hoạt động sinh học đáp ứng dinh dưỡng mà là một hiện tượng văn hóa tổng thể, phản ánh thế giới quan nhị nguyên, nhân sinh quan và cấu trúc xã hội mẫu hệ của người Chăm Ahiér.
- Cung cấp minh chứng thực nghiệm khẳng định tiếp cận từ quan điểm của người trong cuộc (emic) và tính tương đối văn hóa là phương pháp hiệu quả để giải mã các biểu tượng tâm linh và kiêng kỵ ẩm thực.
Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp nguồn dữ liệu dân tộc học chi tiết, chuẩn xác về ẩm thực thường ngày và ẩm thực nghi lễ của người Chăm Ahiér tại 4 làng thuộc huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- Đóng góp luận cứ khoa học phục vụ công tác hoạch định chính sách bảo tồn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể của cộng đồng người Chăm.
- Đề xuất giải pháp khai thác các giá trị đặc sắc của văn hóa ẩm thực Chăm gắn với phát triển du lịch văn hóa bền vững tại địa phương, thúc đẩy nhận thức về tôn trọng đa dạng văn hóa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát tại 4 làng Chăm Ahiér thuộc huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, tập trung vào 4 nghi lễ lớn và tiếp cận theo định tính dân tộc học; do đó chưa bao quát toàn bộ các nghi lễ phụ cũng như chưa mở rộng khảo sát so sánh chuyên sâu với cộng đồng Chăm Ahiér ở tỉnh Bình Thuận hay các nhóm Chăm Awal, Chăm Islam.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh đối sánh văn hóa ẩm thực giữa các nhóm Chăm khác nhau (Ahiér, Awal, Islam, Jat); nghiên cứu sâu hơn về biến đổi sinh kế và xu hướng thương mại hóa ẩm thực truyền thống Chăm trong bối cảnh du lịch đương đại.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo giá trị đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên thuộc các chuyên ngành Văn hóa học, Nhân học, Dân tộc học, Xã hội học khi nghiên cứu về nhân học ẩm thực hoặc văn hóa tộc người Chăm.
- Các nhà quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách dân tộc tại tỉnh Ninh Thuận và khu vực Nam Trung Bộ trong việc xây dựng đề án bảo tồn văn hóa, phát triển du lịch di sản.
- Những chương đáng tham khảo nhất gồm: Chương 1 (hệ thống dữ liệu tự nhiên, kinh tế, phân loại cây trồng, rau rừng Chăm), Chương 3 (hồ sơ chi tiết về cơ cấu lễ vật và kiêng kỵ trong nghi lễ Katé, Rija Nâgar, hỏa táng) và Chương 4 (khung giải mã biểu tượng và quan hệ xã hội qua ẩm thực).
Câu hỏi thường gặp
Câu hỏi 1: Vì sao trong nghi lễ hỏa táng, người Chăm Ahiér kiêng cúng con vật sinh con mà chỉ cúng con vật đẻ trứng?
Trả lời: Người Chăm Ahiér quan niệm cái chết là sự khởi đầu cho một hành trình tái sinh, đầu thai trở lại trần thế. Việc cúng những động vật đẻ trứng (như gà, cá) bắt nguồn từ niềm tin tâm linh nhằm giúp linh hồn người đã khuất thuận lợi đầu thai làm người, tránh nguy cơ bị cản trở đường tái sinh nếu sử dụng các con vật đang mang thai hoặc sinh con.
Câu hỏi 2: Món canh rau môn (njam labua) có ý nghĩa biểu tượng gì trong nghi thức tang ma của người Chăm Ahiér?
Trả lời: Rau môn là loại cây rừng sạch sẽ, mọc tự nhiên, có sức sống mãnh liệt và khả năng sinh sôi nảy nở nhanh. Việc sử dụng canh rau môn làm thức cúng bắt buộc trong lễ hỏa táng biểu trưng cho sự thuần khiết, gửi gắm ước nguyện người chết sẽ được tái sinh nhanh chóng và dòng họ tiếp tục phát triển trường tồn như cây môn.
Câu hỏi 3: Quy định sử dụng đũa ăn thể hiện sự phân tầng vị thế xã hội của người Chăm như thế nào?
Trả lời: Trong xã hội Chăm truyền thống, chất liệu làm đũa phản ánh rõ vị trí xã hội của người sử dụng: chức sắc tôn giáo dùng đũa mun bịt bạc, người có chức quyền dùng đũa mun hoặc đũa ngà, thầy pháp dùng đũa tre, và người dân thường dùng đũa làm từ tre hoặc các loại cây gỗ thông thường.
Câu hỏi 4: Bốn làng Chăm Ahiér được chọn làm địa bàn khảo sát chuyên sâu trong luận án là những làng nào?
Trả lời: Tác giả chọn 4 làng có truyền thống văn hóa lâu đời và dân cư đông đúc tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận: làng Hữu Đức (Hamu Tanran), làng gốm Bàu Trúc (Hamu Crauk), làng dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp (Caklaing) và làng Như Bình (Dara / Pdara).
Kết luận
Luận án "Văn hóa ẩm thực của người Chăm Ahiér ở huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận" của NCS. Trần Thị Thái là một công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu thuộc chuyên ngành Văn hóa học. Bằng việc kết hợp các lý thuyết chức năng, cấu trúc và phát triển cùng phương pháp điền dã dân tộc học thực chứng, tác giả đã tái hiện bức tranh toàn diện về ẩm thực Chăm từ bữa ăn thường ngày đến các nghi lễ lịch tiết và vòng đời. Công trình giải mã thành công các tầng nghĩa biểu tượng, tư duy nhị nguyên và cấu trúc xã hội mẫu hệ ẩn chứa sau các thực hành ăn uống. Đây là nguồn tài liệu khoa học đáng tin cậy cho công tác nghiên cứu nhân học ẩm thực và thực thi chính sách bảo tồn văn hóa tộc người Chăm tại Việt Nam.