Kỹ Năng Tiếp Cận Thơ Văn Qua Nghệ Thuật Ngôn Từ Hình Ảnh

Tài liệu nghiên cứu Skkn kỹ năng tiếp cận thơ văn qua nghệ thuật ngôn từ hình ảnh, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Trường đại học

Trường THCS Hợp Thịnh

Chuyên ngành

Ngữ Văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

sáng kiến

2017

56
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI GIỚI THIỆU

1. GIỚI THIỆU CHUNG

2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN

2.1. Mô tả bản chất của sáng kiến

2.2. Nội dung của sáng kiến

3. NGÔN TỪ, CHẤT LIỆU CỦA VĂN CHƯƠNG

3.1. Ngôn từ, chất liệu duy nhất để xây dựng hình tượng của văn chương

3.2. Phân biệt ngôn ngữ và ngôn từ

3.3. Khả năng nghệ thuật của ngôn từ

4. ÐẶC TRƯNG CỦA NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ

4.1. Tính phi vật thể của hình tượng nghệ thuật ngôn từ

4.2. Hình tượng nghệ thuật ngôn từ tác động tới mọi giác quan của độc giả

4.3. Tính chủ quan, cá biệt của hình tượng văn chương

4.4. Không gian và thời gian trong hình tượng văn chương

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Nghệ thuật ngôn từ Chất liệu xây dựng hình tượng văn chương

Văn chương là nghệ thuật ngôn từ, sử dụng ngôn từ để xây dựng hình tượng. Khác với các loại hình nghệ thuật khác sử dụng chất liệu vật thể, nghệ thuật ngôn từ sử dụng chất liệu phi vật thể, tạo nên tính độc đáo. Ngôn từ không chỉ đơn thuần là phương tiện giao tiếp mà còn là công cụ để tạo hình, biểu đạt cảm xúc, suy tư. Ngôn từ có khả năng gợi hình, gợi cảm, tạo nên những hình ảnh sống động trong trí tưởng tượng người đọc. Tác phẩm văn chương không chỉ phản ánh hiện thực khách quan mà còn thể hiện quan điểm, tình cảm chủ quan của tác giả. Sự kết hợp giữa yếu tố khách quan và chủ quan tạo nên sức mạnh của nghệ thuật ngôn từ trong văn chương.

1.1 Phân biệt ngôn ngữ và ngôn từ

Cần phân biệt rõ ngôn ngữngôn từ. Ngôn ngữ là hệ thống ký hiệu chung, còn ngôn từ là ngôn ngữ được sử dụng trong một hoàn cảnh cụ thể, mang tính cá nhân, biểu đạt tư tưởng, tình cảm. Ngôn từ là chất liệu chính để xây dựng hình tượng trong văn chương. Ngôn ngữ là nền tảng, ngôn từ là sự vận dụng sáng tạo của con người trên nền tảng đó. Khả năng nghệ thuật của ngôn từ nằm ở sự gợi hình, gợi cảm, khả năng biểu đạt tinh tế, sâu sắc. Ngôn từ trong văn chương không chỉ gọi tên sự vật mà còn miêu tả, diễn tả, biểu đạt, tạo nên sự sống động cho tác phẩm. Ví dụ, câu "Bà bá tước ra đi lúc 5 giờ sáng" tuy đơn giản nhưng vẫn mang tính hình ảnh nhờ văn cảnh xung quanh.

1.2 Khả năng nghệ thuật của ngôn từ

Ngôn từ có khả năng tạo hình, gợi cảm. Ngôn từ tượng hình, tượng thanh, miêu tả cảm giác, tâm trạng tạo nên tính hình ảnh sống động. Các biện pháp tu từ như ẩn dụ, hoán dụ làm tăng khả năng biểu đạt của ngôn từ. Ngôn từ thể hiện tính cá thể hóa, bộc lộ cá tính của tác giả. Ví dụ: "Chị ấy năm nay còn gánh thóc. Dọc bờ sông trảng nắng chang chang" sử dụng ngôn từ gợi tả hình ảnh chân thực, sống động. "Kẽo cà, kẽo kẹt,..." là minh chứng cho ngôn từ tượng thanh, tái hiện âm thanh một cách hiệu quả. Khả năng nghệ thuật của ngôn từ tạo nên sự khác biệt, độc đáo giữa các tác phẩm văn chương.

II. Hình ảnh trong thơ văn Tính phi vật thể và sức mạnh gợi cảm

Hình ảnh trong thơ văn mang tính phi vật thể, không trực quan như hội họa. Hình ảnh được tạo nên từ ngôn từ, dựa vào trí tưởng tượng người đọc để tái hiện. Tuy nhiên, chính sự phi vật thể này lại tạo nên sức mạnh gợi cảm, tác động sâu sắc đến người đọc. Hình ảnh trong thơ văn không chỉ tác động đến thị giác mà còn đến thính giác, vị giác, khứu giác, thậm chí cả xúc giác. Hình ảnh gợi lên nhiều tầng nghĩa, nhiều cảm xúc khác nhau tùy theo sự cảm nhận của mỗi người.

2.1 Tính phi vật thể của hình ảnh ngôn từ

Hình ảnh trong thơ văn khác với hình ảnh trong các loại hình nghệ thuật khác. Hình ảnh trong hội họa, điêu khắc là hữu hình, trực quan, còn hình ảnh trong thơ văn là phi vật thể, dựa vào trí tưởng tượng của người đọc. Sự thiếu tính trực quan này không phải là điểm yếu mà là điểm mạnh của nghệ thuật ngôn từ. Chính sự thiếu vắng hình ảnh cụ thể lại tạo nên không gian rộng mở cho trí tưởng tượng của người đọc. Người đọc sẽ tự hình dung, cảm nhận hình ảnh theo cách riêng của mình, tạo nên sự đa dạng, phong phú trong việc tiếp nhận tác phẩm. Hình ảnh trong thơ văn vì vậy, mang tính chủ quan, cá biệt cao.

2.2 Sức mạnh gợi cảm của hình ảnh ngôn từ

Mặc dù phi vật thể, hình ảnh trong thơ văn vẫn có sức mạnh gợi cảm mạnh mẽ. Hình ảnh tác động đến nhiều giác quan, khơi gợi cảm xúc, suy tư ở người đọc. Hình ảnh được xây dựng bằng các biện pháp tu từ, làm tăng tính biểu cảm, giàu sức gợi. Ví dụ: "Cỏ non xanh tận chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa" gợi tả cảnh vật tươi đẹp, tạo nên cảm giác thư thái, yên bình. "Ðùng đùng gió dục mây vần/ Một xe trong cõi hồng trần như bay" gợi tả âm thanh, chuyển động mạnh mẽ, tạo nên cảm giác hào hùng. Hình ảnh đa dạng, phong phú, tạo nên sự hấp dẫn, lôi cuốn người đọc.

III. Phân tích tác phẩm văn học Tiếp cận nghệ thuật ngôn từ và hình ảnh

Phân tích tác phẩm văn học cần chú trọng đến nghệ thuật ngôn từhình ảnh. Cần xác định vai trò của ngôn từ trong việc thể hiện nội dung, cảm xúc. Cần phân tích các biện pháp tu từ, cách sử dụng ngôn từ, hình ảnh để làm nổi bật chủ đề, tư tưởng của tác phẩm. Cần chú ý đến cách tác giả sử dụng ngôn từ, hình ảnh để tạo nên hiệu quả nghệ thuật. Việc phân tích cần bám sát văn bản, dựa trên cơ sở lý luận văn học.

3.1 Phương pháp tiếp cận tác phẩm

Tiếp cận tác phẩm văn học cần có phương pháp. Đọc kỹ văn bản, chú ý đến ngôn từ, hình ảnh, bố cục, cấu trúc. Phân tích các biện pháp tu từ, nghệ thuật ngôn từ, hình ảnh được sử dụng. Xác định chủ đề, tư tưởng, cảm xúc của tác phẩm. Liên hệ với kiến thức văn học, bối cảnh sáng tác. Đánh giá giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Việc phân tích cần có tính hệ thống, logic, chặt chẽ. Cần có lập luận rõ ràng, dẫn chứng cụ thể. Kết luận cần khái quát được những nhận định chính về tác phẩm.

3.2 Ứng dụng trong giảng dạy và học tập

Hiểu nghệ thuật ngôn từhình ảnh giúp giảng dạy và học tập văn học hiệu quả. Giúp học sinh nắm vững kiến thức lý thuyết, phân tích tác phẩm. Rèn luyện kỹ năng cảm thụ, phân tích tác phẩm. Nâng cao khả năng sử dụng ngôn từ, sáng tạo văn học. Giúp học sinh yêu thích văn học, hiểu sâu sắc hơn về cuộc sống. Áp dụng phương pháp phân tích ngôn từ, hình ảnh để khai thác nội dung, giá trị tác phẩm. Giúp học sinh phát triển toàn diện năng lực ngôn ngữ, tư duy, cảm xúc.

31/01/2025
Skkn kỹ năng tiếp cận thơ văn qua nghệ thuật ngôn từ hình ảnh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. Ngôn từ, chất liệu duy nhất để xây dựng hình tượng của văn chương Tất cả các loại hình nghệ thuật, kể cả văn chương, đều thống nhất ở một điểm cơ bản là phản ánh cuộc sống bằng hình tượng. Nhưng sở dĩ các loại hình nghệ thuật đều song song tồn tại, và dường như là để bổ sung cho nhau là vì đặc trưng hình tượng của các loạt hình nghệ thuật đó khác nhau trên nhiều điểm cơ bản. Chẳng hạn, hình tượng của nghệ thuật hội họa, điêu khắc, kiến trúc là có tính chất tĩnh và chiếm một khoảng không gian nhất định; hình tượng của nghệ thuật âm nhạc, điện ảnh… có tính chất động và diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định v.v… Vậy, cái gì đã khiến cho hình tượng các loại hình nghệ thuật có đặc điểm riêng biệt đó? Lí do trên hết và trước hết chính là ở đặc trưng của chất liệu xây dựng nên hình tượng nghệ thuật của chúng.

Chất liệu màu sắc, đường nét của hội họa khác hẳn chất skkn lượng âm thanh của âm nhạc, hình khối của điêu khắc. Chất liệu ngôn từ của hình tượng văn chương khác xa với màu sắc, âm thanh, đường nét, hình khối của các nghệ thuật kia. Từ cơ sở chất liệu xây dựng hình tượng này mà người ta đã tiến hành mô tả, dựng lại bức tranh về các hình tượng của thế giới nghệ thuật như sau: Nghệ thuật biểu hiện Nghệ thuật tạo hình Nghệ thuật tĩnh Kiến trúc Ðiêu khắc Hoa văn Hội họa Nghệ thuật động Vũ đạo Nhiếp ảnh Âm nhạc Nghệ thuật ngôn từ Trữ tình Nghệ thuật tổng hợp Ba lê, Ô pêra Tự sự, kịch Ðiện ảnh Sân khấu Ðiều đáng lưu ý trong bức tranh này là văn chương được xếp ở một vị trí đặc biệt: nó vừa mang tính chất của nghệ thuật tĩnh, không gian, lại vừa mang tính chất nghệ thuật động, thời gian; vừa là nghệ thuật biểu hiện, lại vừa có mặt trong nghệ thuật tạo hình; lại nữa, nó như là cầu nối giữa nghệ thuật tổng hợp với các nghệ thuật riêng rẽ. Chính ngôn từ, chất liệu cấu tạo nên các hình tượng văn chương đã qui định tính độc đáo và đặc biệt đó của văn chương.

Vì vậy, để tìm hiểu về văn chương nghệ thuật, không thể không tìm hiểu đặc trưng bản chất liệu đã tạo nên hình tượng văn chương. Phân biệt ngôn ngữ và ngôn từ Cần thiết phải phân biệt khái niệm ngôn ngữ với ngôn từ để đi tới nắm bắt đặc trưng chất liệu xây dựng hình tượng văn chương dễ dàng hơn. Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội, một sản phẩm tập thể được ra đời trong quá trình lao động sản xuất xã hội. Nó cũng là hệ thống ký hiệu tồn tại trong ý thức của những người cùng một dân tộc.

Ngôn ngữ ra đời đồng thời với tư duy và chức năng quan trọng của nó là giao tế - giao lưu giữa người này với người kia. Ngôn ngữ là nguồn dự trữ các từ và nguyên tắc kết hợp - ngữ pháp, là một pho tự điển chung cho mọi người, mỗi cá nhân không thể sáng tạo ra ngôn ngữ. Còn lời nói là hình thức tồn tại thực tế của ngôn ngữ, là ngôn ngữ trong hành động, là bản thân quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ giữa người và người cụ thể, nảy sinh trong một hoàn cảnh cụ thể và bao giờ cũng biểu đạt những tư tưởng nhất định, mang màu sắc tình cảm và khuynh hướng tư tưởng nhất định. Lời bao gồm lời nói và lời viết, đồng nghĩa với hoạt động ngôn từ.

Như vậy, không phải ngôn ngữ là chất liệu xây dựng hình tượng văn chương mà là ngôn từ - lời được sử dụng với tất cả phẩm chất và khả năng thẩm mĩ của nó. Ngôn ngữ là tổng thể các yếu tố của phương tiện giao tiếp là cơ sở của ngôn từ. Chỉ có ngôn từ - yếu tố vật chất mang tính hình tượng mà cơ sở là câu - cái có khả năng phản ánh các yếu tố của hiện thực trong một tương quan nhất định mới là chất liệu văn chương. Khả năng nghệ thuật của ngôn từ Tính độc đáo của các loại hình nghệ thuật là do tính chất của chất liệu đã cấu tạo nên hình tượng nghệ thuật của chúng.

Tức là các loại nghệ sĩ đã tìm thấy cho mình khả năng nghệ thuật ở trong từng loại chất liệu nhất định, cũng có nghĩa là các loại hình nghệ thuật tồn tại dựa trên cơ sở khả năng nghệ thuật skkn của chất liệu. Vậy khả năng nghệ thuật của chất liệu cấu tạo hình tượng văn chương là như thế nào? Nếu nghệ thuật, tính hình tượng là thuộc tính của chúng thì nghệ sĩ ngôn từ đã có một lợi thế là tính hình tượng văn chương đã có cơ sở ngay từ trong chất liệu. Ngôn từ mang tính hình tượng tự trong bản chất của nó. Bởi vì, ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy và ý thức không thể tồn tại ngoài ngôn ngữ được.

Các từ câu của lời nói là hình ảnh của hiện thực. Ngôn ngữ thực hiện chức năng giao tế trên 3 phương diện: định danh (lời nói gọi tên các sự vật - chức năng định danh), biểu ý (lời nói trao đổi ý kiến với nhau) biểu cảm (lời nói biểu hiện và truyền đạt tình cảm). Như vậy lời nói gợi lên các sự vật, đưa con người thâm nhập vào thế giới của ấn tượng, cảm xúc. Khi tín hiệu ngôn ngữ tác động đến thị giác hay thính giác của con người, thì lập tức bằng thói quen và kinh nghiệm, các sự vật được gợi đến hiện lên trong đầu óc chúng ta.

Sự vật, hiện tượng nào chúng ta tiếp xúc nhiều thì hiện lên càng rõ. Chính vì vậy mà ngôn ngữ tuy là vỏ vật chất nhưng có khả năng biểu đạt được một cách hình tượng cuộc sống xã hội cùng những cảm xúc, suy tư, thái độ của con người trước cuộc sống. Âm thanh trong âm nhạc, màu sắc trong hội họa, gỗ đá trong điêu khắc, trước hết chúng chỉ là vật vô tri, vô giác của tự nhiên, có sẳn trong tự nhiên. Trong lúc đó, ngôn ngữ là của cải của xã hội, nó không vô tri mà bất cứ đơn vị nào cũng là yếu tố của tư tưởng.

Vì vậy mà rất thường khi trong tác phẩm văn chương ta bắt gặp những câu như là những lời nói bình thường với những từ chỉ có nghĩa đen - gợi lên sự vật bình thường nhưng nó vẫn mang tính hình tượng. Chỉ bởi các từ đó đã gợi ra các sự vật. Có người thắc mắc rằng, ví dụ, câu sau đây trong một cuốn tiểu thuyết nọ thì nghệ thuật ở đâu: Bà bá tước ra đi lúc 5 giờ sáng? skkn Trước hết phải thấy rằng tiểu thuyết có những lời văn bình thường như lời nói ngoài đời là bình thường. Còn tính nghệ thuật của chúng ở đây là chỗ gọi ra đúng tên, sự việc cần gọi (nghĩa đen) và như vậy là gợi lên hình ảnh hiện thực - đạt được tính hình tượng.

Hơn nữa, không thể hiểu hết lời văn đó, khi tách nó ra khỏi văn cảnh. Tính hình tượng của ngôn từ tồn tại trong bản thân nó mà người ta dễ nhận ra ở loại từ tượng hình, tượng thanh, mô tả cảm giác và tâm trạng. Chẳng hạn: - Chị ấy năm nay còn gánh thóc. Dọc bờ sông trảng nắng chang chang - Kẽo cà, kẽo kẹt, Kẽo cà, kẽo kẹt Tay em đưa đều, Ba gian nhà nhỏ Ðầy tiếng võng kêu.

Tính hình tượng của ngôn từ còn thể hiện ở các phương thức chuyển nghĩa: Ân dụ, Hoán dụ… - Nghe như cưa xe, tiếng ve rít dài - Nghìn tay than chảy rạch máu trời xanh - Vì sao trái đất nặng ân tình Nhắc Máci tên người Hồ Chí Minh Lời nói là hình thức tồn tại cụ thể của ngôn ngữ, là hành động cá nhân mang tư tưởng, tình cảm, ý chí nguyện vọng cá nhân. lời nói không bao giờ vô chủ cả, má bao giờ cũng là phát ngôn của một chủ thể. Như thế qua lời nói mà ta skkn nhận ra người nói, ở đây, ngôn từ bộc lộ khả năng nghệ thuật của mình ở giác độ cá thể hóa. Khả năng nghệ thuật của ngôn từ là cơ sở của ngôn từ nghệ thuật.

ÐẶC TRƯNG CỦA NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ 1. Tính phi vật thể của hình tượng nghệ thuật ngôn từ. Hình tượng ngôn từ thiếu tính trực quan Tính độc đáo của chất liệu xây dựng nên hình tượng văn chương là ngôn từ đã khiến cho hình tượng văn chương mang tính phi vật thể. Người ta vẫn thường đối lập văn chương với nghệ thuật.

Ðây không phải là ngẫu nhiên. Có thể phân chia thế giới nghệ thuật của con người ra làm hai loại: một loại chỉ có một ngành là văn chương, còn loại kia là gồm tất cả các ngành nghệ thuật khác. Căn cứ vào chất liệu xây dựng hình tượng thì cách phân chia này hoàn toàn hợp lí. Các ngành nghệ thuật (ngoài văn chương) hình tượng của nó được xây dựng bằng chất liệu vật chất cụ thể của tự nhiên: gỗ, đá, kim loại, sơn màu, thân thể con người v.v… Từ những vật liệu có tính chất vật thể đó, hình tượng các loại hình nghệ thuật được xây dựng nên đều mang tính hữu hình trực tiếp, tính xác thực, tính trực quan.

Các hình tượng hữu hình vật thể này có khả năng tác động trực tiếp vào giác quan, gây nên những ấn tượng, cảm xúc thị giác mạnh mẽ. Ðược xây dựng từ chất liệu ngôn từ, hình tượng văn chương không tác động trực tiếp vào các giác quan của chúng ta, dù là thị giác hay thính giác. Người thưởng thức tác phẩm văn chương được gọi là độc giả còn người thưởng thức tác phẩm nghệ thuật thường được gọi là khán giả, mặc dầu cả 2 loại người này đều dùng mắt cả. Chỉ bởi, đối với văn chương không ai trực tiếp nhìn, ngắm hình tượng của nó bằng mắt cả.

Các hình tượng văn chương hiện lên trong óc người thưởng thức bằng trí tưởng tượng. Người đọc phá vỡ ý skkn nghĩa các từ, câu để liên tưởng với các biểu tượng về đối tượng được miêu tả, nhờ vào trí tưởng tượng mà người đọc dường như tái tạo đối tượng miêu tả màvăn bản chỉ ra. Như thế chúng ta không sờ thấy, nghe thấy, nhìn thấy trực tiếp tượng văn chương. Các hình tượng văn chương thiếu tính trực quan, chúng phi vật thể.

Nghệ thuật là qui luật của tình cảm, mà tình cảm chỉ xuất hiện khi con người tiếp xúc trực tiếp với sự vật, hiện tượng cụ thể. Ðứng về phương diện này, văn chương phải nhường chỗ cho các nghệ thuật khác. Tính phi vật thể của hình tượng văn chương đã không thể tạo ra được tri giác cảm tính trực tiếp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Khám Phá Nghệ Thuật Ngôn Từ Hình Ảnh Trong Thơ Văn" mang đến cho độc giả cái nhìn sâu sắc về cách mà ngôn từ hình ảnh được sử dụng trong thơ văn để tạo nên những cảm xúc mạnh mẽ và hình ảnh sống động. Tác giả phân tích các kỹ thuật ngôn ngữ, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về sức mạnh của ngôn từ trong việc truyền tải ý nghĩa và cảm xúc. Bài viết không chỉ mở rộng kiến thức về nghệ thuật ngôn từ mà còn khuyến khích độc giả khám phá và cảm nhận văn học một cách sâu sắc hơn.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về cách giáo viên có thể áp dụng các phương pháp dạy đọc hiểu văn bản, hãy tham khảo bài viết Luận án tiến sĩ mô hình hoạt động của giáo viên trong dạy đọc hiểu văn bản ở trung học phổ thông. Bài viết này sẽ cung cấp cho bạn những phương pháp và mô hình giảng dạy hiệu quả, giúp nâng cao khả năng tiếp nhận văn học của học sinh.