Chương 1 Tổng quan về phát hiện tri thức trong cơ sở dữ liệu Knowledge Discovery and Data mining (KDD) là lĩnh vực nghiên cứu đang phát triển mạnh mẽ. KDD là sự kết hợp giữa cơ sở dữ liệu (CSDL) với các kỹ thuật thống kê, học máy và các lĩnh vực liên quan để trích rút tri thức và thông tin có giá trị từ số lượng dữ liệu rất lớn. KDD có nhiều lợi ích trong các ứng dụng khoa học và thương mại. Các tổ chức, chính phủ và cộng đồng những người nghiên cứu khoa học ngày nay đang bị tràn ngập trong dòng chảy dữ liệu được thu thập và lưu trữ hàng ngày từ cơ sở dữ liệu trực tuyến.
Việc phân tích dữ liệu này và trích rút các dạng có ích trong một thời gian hợp lý là rất khó khăn nếu không có sự trợ giúp của máy tính và các công cụ phân tích mạnh. Các chương trình phân tích và thống kê dựa vào máy tính thường bị hạn chế là không có sự điều khiển, chỉ dẫn của các nhà thống kê và các chuyên gia để lọc và giải thích các kết quả. KDD được xem là một trong các lĩnh vực nghiên cứu có triển vọng nhất từ những năm 1990 bởi các nhà nghiên cứu về học máy và cơ sở dữ liệu. Khái niệm về phát hiện tri thức KDD là lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng tập trung vào dữ liệu, thông tin và tri thức.
Nói chung, chúng ta thường xem dữ liệu như là một chuỗi các bit, các số hay các ký hiệu, các đối tượng mà có ý nghĩa khi được gửi đến cho một chương trình theo một định dạng cho trước (nhưng vẫn chưa hiểu được). Chúng ta sử dụng các bit để đo thông tin và xem nó như là dữ liệu đã được lược bỏ các dư thừa và được rút gọn tới mức tối thiểu cần thiết để tạo nên các quyết định mà đặc tả được bản chất của dữ liệu (dữ liệu hiểu được). Chúng ta 10 có thể xem tri thức như là thông tin được kết hợp, bao gồm các sự kiện và các quan hệ của chúng, là cái mà được hiểu, được phát hiện hay được biết như "hình ảnh trí tuệ" của chúng ta. Nói cách khác, tri thức có thể được xem như dữ liệu ở mức cao của sự trừu tượng hoá và tổng quát hoá.
Có sự khác biệt trong cách hiểu các thuật ngữ “phát hiện tri thức” và “khai phá dữ liệu” giữa những người xây dựng lĩnh vực mới này từ các lĩnh vực khác nhau : Phát hiện tri thức (Knowledge discovery) trong CSDL là quá trình phát hiện các mẫu hay các mô hình đúng đắn, mới lạ, có lợi ích tiềm tàng và có thể hiểu được trong dữ liệu. Khai phá tri thức (Data mining) là quá trình phát hiện tri thức bao gồm các giải thuật khai phá dữ liệu để tìm ra các mẫu hay các mô hình trong dữ liệu dưới khả năng có thể chấp nhận được của máy tính điện tử. Nói cách khác, mục đích của phát hiện tri thức và khai phá dữ liệu là để tìm ra các mẫu hay các mô hình quan tâm tồn tại trong CSDL nhưng lại ẩn trong lượng dữ liệu lớn. Tiến trình phát hiện tri thức trong cơ sở dữ liệu Tiến trình KDD bao gồm nhiều bước được chỉ ra trong hình 1.
Bước thứ nhất là khảo sát miền ứng dụng và xác định, phát biểu vấn đề. Bước này rõ ràng là điều kiện tiên quyết cho việc trích rút các tri thức có ích và lựa chọn các phương pháp DM thích hợp ở bước thứ ba theo mục đích ứng dụng và bản chất dữ liệu. 11 Bước thứ hai là thu thập và tiền xử lý dữ liệu, bao gồm việc lựa chọn nguồn dữ liệu, loại bỏ các nhiễu hay các ngoại lệ (outliers), xử lý vấn đề thiếu dữ liệu, chuyển đổi (rời rạc hoá nếu cần thiết) và rút gọn dữ liệu, v. Bước này thường chiếm hầu hết thời gian cần cho toàn bộ tiến trình KDD.1 - Tiến trình KDD Bước thứ ba là DM để trích rút ra các dạng và các mô hình ẩn trong dữ liệu.
Một mô hình có thể được xem như "một sự mô tả toàn bộ một cấu trúc để tổng kết các thành phần cơ bản của dữ liệu một cách có hệ thống hay mô tả dữ liệu có thể được xuẩt hiện như thế nào". Ngược lại, "một dạng là một cấu trúc cục bộ, có thể chỉ liên quan một số các biến và các trường hợp". Bước thứ tư là giải thích tri thức được phát hiện, nhất là giải thích các điều kiện được chấp nhận của sự mô tả và dự báo – hai mục đích chính của các hệ thống phát hiện tri thức trong thực tế. Các kinh nghiệm cho thấy rằng các mô hình hay các dạng được phát hiện từ dữ liệu ngay từ đầu không phải luôn đúng.
Do đó tiến trình KDD lặp đi lặp lại một cách tất yếu để đánh giá tri 12 thức được phát hiện. Một cách thức chuẩn để đánh giá các luật được đưa ra là chia dữ liệu thành hai tập, huấn luyện trên tập đầu tiên và kiểm thử trên tập thứ hai. Có thể lặp lại quy trình này một số lần, với cách phân chia khác nhau, sau đó lấy trung bình của các kết quả để đánh giá hiệu năng các luật. Bước cuối cùng là đưa tri thức được phát hiện sử dụng trong thực tế.
Trong một số trường hợp, có thể sử dụng trực tiếp tri thức được phát hiện, không cần nhúng trong một hệ thống máy tính. Ngược lại, người dùng có thể cho rằng tri thức được phát hiện có thể đưa vào trong các máy tính và được khai thác bởi các chương trình ứng dụng, chẳng hạn hệ chuyên gia, hệ trợ giúp quyết định. Các nhiệm vụ chính của khai phá dữ liệu Trong thực tế, DM có hai mục đích chính là dự báo và mô tả. Mục đích thứ nhất đòi hỏi phải sử dụng một số biến hoặc trường trong cơ sở dữ liệu để dự báo các giá trị chưa biết hoặc sẽ có của các biến quan tâm khác.
Mục đích thứ hai tập trung vào việc tìm các dạng mô tả dữ liệu có thể hiểu được. Mối quan hệ của hai mục đích này đối với các ứng dụng khai phá dữ liệu có thể thay đổi một cách đáng kể. Một hệ thống DM có thể hoàn thành một hoặc nhiều hơn các nhiệm vụ sau [4]: - Mô tả lớp. Mô tả lớp cung cấp một sự tổng kết ngắn gọn và súc tích của một sự thu thập dữ liệu.
Sự tổng kết của một sự thu thập dữ liệu được gọi là đặc tả lớp; ngược lại, sự so sánh giữa hai hoặc nhiều hơn các thu thập dữ liệu được gọi là so sánh hoặc phân biệt lớp. Mô tả lớp không chỉ bao gồm các tính chất tổng kết của nó, như count, sum và average, mà còn cả các tính chất về sự phân tán dữ liệu như variance, outliers, quartiles. Sự kết hợp là việc phát hiện các mối quan hệ kết hợp hay các quan hệ chung giữa một tập các item. Chúng thường được biểu diễn ở dạng luật chỉ ra các điều kiện giá trị-thuộc tính xuất hiện thường xuyên cùng với nhau trong một tập dữ liệu đã cho.
Một luật kết hợp ở dạng X⇒Y được hiểu như "các bộ dữ liệu mà thoả mãn X thì có khả năng thoả mãn Y". Các phân tích kết hợp được sử dụng một cách rộng rãi trong các cơ sở dữ liệu giao dịch đối với xu hướng tiếp thị, các sản phẩm có quan hệ với nhau, thiết kế catalog và các quy trình tạo quyết định thương mại khác. Việc nghiên cứu đáng kể được thực thi gần đây dựa trên các phân tích kết hợp với các giải thuật hiệu quả đã được đề xuất, bao gồm tìm kiếm apriori, khai phá đa cấp, các kết hợp đa chiều, khai phá các kết hợp đối với dữ liệu số, categorical, dữ liệu khoảng, meta-pattern hay khai phá các tương quan. - Sự phân lớp.
Sự phân lớp phân tích một tập dữ liệu huấn luyện (ví dụ, một tập các đối tượng mà nhãn lớp được biết) và xây dựng một mô hình cho mỗi lớp dựa vào các đặc trưng trong dữ liệu. Một cây quyết định hoặc một tập các luật phân lớp được tạo bởi một quy trình phân lớp như thế có thể sau đó được dùng cho một sự hiểu biết tốt hơn của mỗi lớp trong cơ sở dữ liệu và cho sự phân lớp của dữ liệu trong tương lai. Có nhiều phương pháp phân lớp được phát triển trong các lĩnh vực học máy, thống kê, cơ sở dữ liệu, mạng nơron, tập thô. Phân lớp được dùng trong phân đoạn khách hàng, mô hình thương mại và các phân tích tín dụng.
Chức năng khai phá này dự báo các giá trị có thể của một số dữ liệu bị thiếu hoặc sự phân bố giá trị của các thuộc tính nào đó trong một tập đối tượng. Nó bao gồm việc tìm tập thuộc tính liên quan với thuộc tính quan tâm (ví dụ, một số phân tích thống kê) và dự báo phân bố giá trị dựa trên tập dữ liệu tương tự với các đối tượng đã chọn. Ví dụ, tiền lương của một 14 người làm có thể được dự báo dựa vào phân bố lương của những người làm tương tự trong công ty. Thông thường, các phân tích hồi quy (regression), mô hình tuyến tính suy rộng, các phân tích tương quan và các cây quyết định là các công cụ có ích trong chất lượng dự báo.
Các phân tích phân cụm phân vùng dữ liệu thành các cụm. Một cụm là một tập hợp các đối tượng "tương tự" với nhau. Tính tương tự thường được định rõ bởi hàm khoảng cách. Các khoảng cách Hamming và Euclidean thường được dùng.
Một phương pháp phân cụm tốt mang lại các cụm bảo đảm tính chất: độ tương tự giữa các cụm thì thấp còn độ tương tự trong một cụm thì cao. Nghiên cứu DM tập trung vào tính chất lượng và các phương pháp phân cụm scalable (khả năng sử dụng cùng một giải thuật cho một số lượng lớn các đầu vào) đối với cơ sở dữ liệu lớn và nhiều chiều. - Các phân tích theo thời gian. Các phân tích theo thời gian là để phân tích một tập dữ liệu theo thời gian để phát hiện các quy tắc nào đó và các đặc trưng quan tâm, bao gồm tìm kiếm các chuỗi hay các chuỗi con tương tự, và khai phá các dạng, các chu kỳ, các xu hướng và độ lệch tuần tự.
Ví dụ, một ai đó có thể dự đoán giá trị cổ phần của một công ty dựa vào lịch sử về cổ phần của công ty đó, các tình huống thương mại, giá cả thị trường hiện thời. Cũng có các nhiệm vụ DM khác, như các phân tích ngoại lệ (outlier).