mở đầu những trang sử vẻ vang của quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, chuyển phong trào cách mạng yêu nước ở Việt Nam và Lào từ tự phát lên tự giác. Chủ tịch Cayxỏn Phômvihẳn đánh giá đó là: “Bước ngoặt lịch sử của ba nước Đông Dương” và “Mối quan hệ Lào - Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới, hình thành liên minh chiến đấu giữa cách mạng Lào và cách mạng Việt Nam” [32; tr. Tháng 5/1931, công nhân làm đường ở Lạc Sao đình công, ủng hộ phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh. Để sự chỉ đạo được thuận lợi, Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương quyết định thành lập Đảng bộ Ai Lao.
Ngày 9/9/1934, Ban Chấp hành Xứ ủy lâm thời Ai Lao được thành lập [27; tr. Tại Hội nghị lần thứ Tám, tháng 5/1941, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã quyết định thành lập ở mỗi nước một mặt trận dân tộc thống nhất riêng: Việt Nam độc lập đồng minh, Ai Lao độc lập đồng minh, Cao Miên độc lập đồng 15 minh; khẳng định, sau khi đánh đuổi Pháp - Nhật thì: “Các dân tộc sống trên cõi Đông Dương sẽ tùy theo ý muốn, tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành một dân tộc quốc gia tùy ý” và “Sự tự do độc lập của các dân tộc sẽ được thừa nhận và coi trọng” [27; tr. Quan hệ Lào - Việt Nam chính thức được xây dựng trên cơ sở mới, khác hẳn về chất so với giai đoạn trước, đó là lập trường chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa quốc tế vô sản và chủ nghĩa yêu nước chân chính. Tháng 8/1945, thời cơ giành độc lập cho Việt Nam và Lào xuất hiện, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Việt Nam đã làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, dẫn tới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2/9/1945.
Sự kiện này tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc khỏi nghĩa giành chính quyền của nhân dân Lào. Ngày 23/8/1945, cuộc mít tinh lớn diễn ra tại Viêng Chăn có đông đảo nhân dân Lào và Việt kiều tham gia, đánh dấu cuộc khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Lào. Tại cuộc mít tinh, ta nói rõ “đường lối chủ trương của Hội Việt kiều cứu quốc, là toàn thể Việt kiều ở Lào không phân biệt già trẻ, gái trai nguyện kề vai sát cánh cùng nhân dân các bộ tộc Lào đứng lên chống thực dân Pháp giành độc lập tự do cho toàn thể nhân dân Lào” [5; tr. Tháng 9/1945, một đại đội gồm bộ đội và dân quân hai huyện Hương Sơn, Đức Thọ (Hà Tĩnh) lên đường đánh địch ở Na Pê, ta đã tiêu diệt 1 trung đội địch, Cũng trong thời gian này, bộ đội Thanh Chương (Nghệ An) cùng với lực lượng vũ trang Lào tập kích huyện ly Căm Cốt, truy kích địch đến cầu Na Hương, thu được bản kế hoạch đánh chiếm thành phố Vinh của chúng.
Ngày 12/10/1945, nhân thời cơ phát xít Nhật đầu hàng quân “Đồng minh” và phong trào cách mạng của quần chúng lên cao, Lào tuyên bố độc lập. Ngày 14/10/1945, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công nhận nước Lào độc lập. Chính phủ Nhân dân Lào nêu rõ: “Nhân dân Lào thân thiện với nhân dân Việt Nam và quyết cùng nhân dân Việt Nam đánh đuổi bọn thực dân Pháp ra khỏi Đông Dương” [27; tr. Nhằm đưa tình đoàn kết chiến đấu giữa hai nước phát triển lên một tầm cao mới, ngày 16/10/1945, tại Viêng Chăn, Việt Nam và Lào ký Hiệp ước tương trợ Việt - Lào và đến ngày 30/10/1945 ký Hiệp định thành lập liên quân Việt – Lào do Hoàng thân Xuphanuvông làm Tổng chỉ huy, nhằm giúp đỡ nhau tổ chức xây dựng lực lượng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ nền độc lập vừa mới giành 16 được.
Đó là những văn kiện chính thức đầu tiên, tạo cơ sở pháp lý để hai dân tộc hợp tác, liên minh chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược. Sự trở lại xâm lược của Pháp ở Đông Dương đã đưa hai dân tộc Việt Nam và Lào cùng sát cánh bên nhau chống kẻ thù chung. Ngày 25/11/1945, Đảng Cộng sản Đông Dương ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc, chủ trương thống nhất mặt trận Việt - Miên - Lào chống Pháp xâm lược: “Tăng gia công việc võ trang tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân ở thôn quê làm cho Mặt trận thống nhất kháng Pháp của Lào - Việt lan rộng và chiến tranh du kích nảy nở ở thôn quê đặng bao vây lại quân Pháp ở những nơi sào huyệt của chúng và quét sạch chúng khỏi đất Lào” [27; tr. Trên tinh thần như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Kháng chiến của Việt - Miên - Lào là của chung chúng ta, là bổn phận của chúng ta.
Việt Nam kháng chiến có thành công thì kháng chiến Miên - Lào mới thắng lợi và kháng chiến Miên - Lào có thắng lợi thì kháng chiến Việt Nam mới hoàn toàn thắng lợi” [24; tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến sự nghiệp cách mạng của Lào, xem “giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình” [5; tr. Đầu tháng 12/1945, bộ đội Việt phối hợp với lực lượng vũ trang yêu nước Lào tiến công thị trấn Sê Pôn, diệt và bắt 53 tên Pháp, thu toàn bộ vũ khí. Sau đó tiến công địch ở Mường Phìn, Huội Cay, cầu Thà Khốc.
Ở đường số 12, Đại đội 6 chiến khu IV cùng với một bộ phận bộ đội huyện Hương Khê đánh thắng địch ở Bãi Dinh (Quảng Bình) buộc địch phải rút về Banaphào. Đầu năm 1946, khi cách mạng Việt Nam còn đang rất khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử đoàn cố vấn sang giúp Lào, phân công ông Lê Thiệu Huy làm bí thư riêng, phụ tá cho Hoàng thân Xuphanuvông. Tháng 10/1946 được sự giúp đỡ cửa Uỷ ban hành chính kháng chiến Khu IV của Việt Nam, hội nghị cán bộ các tỉnh Khăm Muộn, Savanakhet, Xiêng Khoảng, Sầm Nưa đã họp tại thành phố Vinh (Nghệ An) nhằm thống nhất phương hướng hành động và thành lập Uỷ ban kháng chiến Đông Lào do đồng chí Nu Hắc Phun xa vẫn làm chủ tịch. Phối hợp với chiến trường Lào, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà quyết định mở mặt trận miền Tây (Tây tiến) tiến công Sầm Nưa, tạo điều kiện cho sự phát triển của các lực lượng kháng chiến Lào.
Tháng 2/1947, lực lượng vũ trang Việt Nam từ Nghệ An, Thanh Hoá, Tây Bắc sang cùng với các đội vũ trang Lào đồng loạt tiến công địch tại nhiều nơi ở tỉnh Sầm Nưa, nhanh chóng làm chủ phòng tuyến sông Mã, 17 Sầm Tớ. Năm 1948, Việt Nam và Lào thống nhất thành lập Mặt trận Tây Bắc Lào, xây dựng căn cứ địa nối liền với khu Tây Bắc của Việt Nam; đồng thời thành lập Khu đặc biệt ở Quảng Nam (Việt Nam) làm chỗ dựa xây dựng căn cứ ở Hạ Lào. Từ năm 1949, Việt Nam đã cử cán bộ phối hợp mở các lớp huấn luyện quân sự và học tập chính trị cho lực lượng kháng chiến Lào. Với sự hỗ trợ, giúp đỡ của Việt Nam, cuộc kháng chiến của nhân dân Lào đạt được nhiều kết quả quan trọng.
Ngày 20/1/1949, Quân đội Lào Ítxala ra đời. Ngày 30/10/1949, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định các lực lượng quân sự của Việt Nam cử sang chiến đấu giúp Lào được tổ chức thành hệ thống riêng lấy danh nghĩa là Quân tình nguyện. Đây là mốc lịch sử trọng đại đánh dấu bước trưởng thành của lực lượng quân sự Việt Nam trên chiến trường Lào; đồng thời, khẳng định tình đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào. Đến năm 1950, Lào xây dựng được nhiều vùng giải phóng và khu căn cứ rộng lớn, chiếm một phần ba diện tích nước Lào, mở thông với các vùng căn cứ Tây Bắc, các vùng hậu phương của Liên khu IV và Liên khu V (Việt Nam), tạo thành một thế kháng chiến liên hoàn vững chắc giữa Việt Nam và Lào suốt theo chiều dài biên giới từ Bắc xuống Nam.
Đặc biệt, từ ngày 13-15/8/1950, tại tỉnh Tuyên Quang (Việt Nam) diễn ra Đại hội quốc dân Lào, quyết định thống nhất các tổ chức quần chúng, thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Lào tự do, tức Neo Lào Ítxala và Chính phủ kháng chiến Lào, do Hoàng thân Xuphanuvông làm Thủ tướng. Đại hội đã đề ra Cương lĩnh chính trị 12 điểm, trong đó nhấn mạnh yêu cầu tăng cường đoàn kết quốc tế, trước hết là với Việt Nam và Campuchia, cùng nhau đánh đuổi kẻ thù chung là thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ. Tháng 2/1951, Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chức đại hội lần thứ II, quyết định thành lập ở mỗi nước một chính đảng; lấy tên là Đảng Nhân dân Lào, Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Campuchia. Ngày 11/3/1951, Hội nghị liên minh nhân dân ba nước Đông Dương được tổ chức, thống nhất “Thành lập khối Liên minh nhân dân Việt - Miên - Lào trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, trương trợ và tôn trọng chủ quyền của nhau” [27; tr.
Tháng 4/1951, Bộ Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Mặt trận Thượng Lào được thành lập nhằm thống nhất các lực lượng quân 18 tình nguyện ở Bắc Lào và Tây Lào tập trung cùng các lực lượng cách mạng Lào xây dựng khu giải phóng Thượng Lào thành căn cứ địa chính của cả nước. Năm 1952, tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Vì mối quan hệ khăng khít về địa lý, quân sự, chính trị, v. mà ta với Miên, Lào cũng như môi với răng. Hai dân tộc Miên, Lào hoàn toàn giải phóng, thì cuộc giải phóng của ta mới chắc chắn hoàn toàn.
Cho nên nhiệm vụ của ta lại phải ra sức giúp đỡ kháng chiến Miên, Lào một cách tích cực, thiết thực hơn. Đó là nhiệm vụ quốc tế của chúng ta” [31; tr. Năm 1953, Đảng và Chính phủ Việt Nam quyết định phối hợp với Chính phủ kháng chiến Lào mở Chiến dịch Thượng Lào, giải phóng Sầm Nưa. Tháng 12/1953, một bộ phận quân chủ lực Việt Nam phối hợp với bộ đội Lào Ítxala và quân tình nguyện Việt Nam mở Chiến dịch Trung, Hạ Lào.
Thắng lợi của các chiến dịch này không chỉ tạo điều kiện đưa cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Lào phát triển mạnh mẽ mà còn tác động trực tiếp tới Việt Nam. Trung tuần tháng 2/1954, các Tiểu đoàn 329 và 328 của Trung đoàn 101, được lệnh xuống Hạ Lào, Đông Bắc Campuchia, cùng Tiểu đoàn 436, tiếp tục tiến công địch để phối họp với chiến trường Điện Biên Phủ.