CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI HỌC SINH, SINH VIÊN CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. Học sinh, sinh viên và vấn đề chi phí cho quá trình học tập 1. Khái niệm, đặc điểm học sinh, sinh viên 1. Khái niệm học sinh, sinh viên Hiện nay, đang có một số cách diễn đạt khác nhau về khái niệm học sinh, sinh viên như: Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, Hoàng Thị Tuyền (2010), cho rằng “Học sinh” là người học ở bậc phổ thông, trung học; còn “sinh viên” là người học ở bậc cao đẳng, đại học.
Với cách diễn đạt này, có thể hiểu khái niệm “học sinh” với nghĩa là tên gọi chung của những người học ở bậc phổ thông, trung học còn “sinh viên” là tên gọi chung của những người học ở bậc cao đẳng, đại học. Theo Đỗ Tất Ngọc (2002), sinh viên là “một bộ phận của thanh niên đang theo học ở các trường đại học và cao đẳng. Họ là một nhóm xã hội đặc thù, đang trong giai đoạn phát triển và hoàn thiện nhân cách, tích cực học tập, rèn luyện chuẩn bị gia nhập đội ngũ trí thức, lao động kỹ thuật cao của đất nước. Trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào, thanh niên sinh viên luôn là lực lượng năng động, sáng tạo và là nguồn nhân lực được đào tạo cao của xã hội [23].
Sinh viên là lực lượng kế tiếp, bổ sung cho đội ngũ trí thức tương lai. Họ là lớp người có văn hóa cao và có nhiều điều kiện đón nhận những thông tin về tư tưởng, khoa học kỹ thuật, văn hóa và được tập trung ở những trung tâm kinh tế văn hóa xã hội của địa phương”. Với khái niệm này, tác giả Đỗ Tất Ngọc cũng đồng quan điểm với nhóm tác giả Hoàng Phê, Hoàng Thị Tuyền, khi cho rằng sinh viên là “một bộ phận của thanh niên đang theo học ở các trường đại học và cao đẳng”, nhưng cái khác trong khái 6 niệm về sinh viên của tác giả Đỗ Tất Ngọc là đã làm rõ hơn nội hàm của khái niệm sinh viên là “họ là một nhóm xã hội đặc thù, đang trong giai đoạn phát triển và hoàn thiện nhân cách, tích cực học tập, rèn luyện chuẩn bị gia nhập đội ngũ trí thức, lao động kỹ thuật cao của đất nước”. Từ những phân tích trên, cho thấy “học sinh, sinh viên” trong quá trình trình bày các nội dung của luận văn với ý nghĩa là tên gọi của những người đang học ở bậc đào tạo nghề, trung cấp, cao đẳng và đại học, không bao gồm những người đang học ở bậc học phổ thông.
Đặc điểm của học sinh, sinh viên - Học sinh, sinh viên là những người có hoài bão, có ước mơ: Nghề nghiệp tương lai trở thành niềm mong ước, sự kỳ vọng, lý tưởng, động cơ, mục đích cơ bản nhất, quan trọng nhất trong cuộc sống và mọi hoạt động của sinh viên. Đây là một đặc điểm rất quan trọng của HSSV. Đặc điểm này cho thấy mỗi HSSV đều có những ước mơ, hoài bão về nghề nghiệp trong tương lai. Họ lấy đó làm mục tiêu để phấn đấu, rèn luyện và nỗ lực hơn trong học tập.
Tuy nhiên, trên thực tế có một số HSSV không thực hiện được ước mơ, hoài bão của mình vì gia đình và bản thân họ không có đủ nguồn lực tài chính để trang trải cho việc học tập, đặc biệt là học cao đẳng, đại học. - Học sinh, sinh viên là những người có cơ hội để thành công trong xã hội: do tính chất của hoạt động nghề nghiệp trong tương lai, họ là những người có nhiều cơ hội thuận lợi hơn để chiếm những vị trí cao trong xã hội, nhất là trong nền kinh tế tri thức. Đặc điểm này cho thấy HSSV là một lực lượng lao động rất quan trọng của nền kinh tế trong tương lai. HSSV sẽ là lực lượng lao động có trí thức, có trình độ, có kỹ năng làm việc tốt hơn lực lượng lao động phổ thông, không qua đào tạo.
Do đó, nếu Chính phủ các nước có các cơ chế, chính sách phù hợp, hỗ trợ HSSV để họ có điều kiện theo học các chương trình đào tạo nghề, cao đẳng, đại học thì lực lượng lao động có qua đào tạo này sẽ có những đóng góp tích cực hơn trong việc nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế. 7 - Học sinh, sinh viên là những người có khả năng thích ứng cao, tiếp thu nhanh các giá trị mới: Phần lớn HSSV là những người trẻ tuổi, có sức khỏe tốt, thích học hỏi, khám phá, tìm hiểu những cái mới nên dễ dàng thích nghi với các môi trường, điều kiện mới, dễ dàng tiếp thu những giá trị mới trong cuộc sống. Đặc điểm này cho thấy HSSV sẽ là lực lượng lao động tiên phong của nền kinh tế, họ sẽ là lực lượng lao động có khả năng ứng dụng những thành tựu khoa học mới vào sản xuất để tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, tăng sức cạnh tranh cho nền kinh tế, góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững ở các quốc gia. Chi phí cho quá trình học tập của học sinh, sinh viên Trong quá trình học tập, HSSV phải chi trả nhiều khoản chi phí, trong đó có 3 khoản chi cơ bản là học phí, sinh hoạt phí và tiền mua tài liệu học tập.
Học phí Giáo dục và đào tạo là một trong những lĩnh vực nhận được sự ưu tiên đầu tư hàng đầu từ Ngân sách nhà nước (NSNN). Tuy nhiên, NSNN khó có khả năng đáp ứng đủ toàn bộ kinh phí phục vụ hoạt động giáo dục và đào tạo của một quốc gia. Để đáp ứng đủ nguồn lực tài chính cho giáo dục, cần có sự tham gia của các nguồn lực ngoài ngân sách. Một trong những nguồn lực ngoài ngân sách là học phí.
Học phí là số tiền HSSV phải chi trả cho cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp khi họ sử dụng các dịch vụ giáo dục, đào tạo. Thông thường, học phí được các cơ sở đào tạo tính theo tín chỉ, tháng, học kỳ hoặc năm. Học phí có ý nghĩa quan trọng, thể hiện sự công bằng trong việc thụ hưởng các dịch vụ giáo dục, nâng cao ý thức của người học đối với cộng đồng và góp phần làm giảm gánh nặng chi cho NSNN. Hiện nay, hầu hết các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp trên thế giới đều thu học phí của HSSV, mức học phí HSSV phải đóng cao hay thấp phụ thuộc vào các yếu tố: cơ sở giáo dục đào tạo là công lập hay ngoài công lập; trình độ đào tạo; chương trình đào tạo; chất lượng đào tạo;… Đối với các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp công lập, do được Nhà nước bao cấp một phần kinh phí hoạt động (chi phí đầu tư xây dựng cơ bản, chi phí thường xuyên) nên học phí của các cơ sở giáo dục công lập thường thấp 8 hơn học phí của các cơ sở giáo dục ngoài công lập; học phí của của cấp học có trình độ cao thường cao hơn học phí của cấp học có trình độ thấp; học phí chương trình đào tạo liên kết thường cao hơn học phí của các chương trình đào tạo trong nước; học phí của HSSV ngoại quốc thường cao hơn học phí của HSSV bản địa.
Học phí đã, đang và sẽ còn là khoản chi phí lớn cho quá trình học tập của HSSV. Tùy theo cơ sở giáo dục, đào tạo là công lập hay ngoài công lập, trình độ đào tạo, chương trình đào tạo., số tiền học phí sẽ chiếm ít nhất từ 30% đến hơn 50% tổng số tiền HSSV phải chi trả cho việc học tập của mình/tháng. Sinh hoạt phí Sinh hoạt phí là những khoản chi phí HSSV phải chi trả để duy trì cuộc sống hàng ngày trong suốt thời gian theo học tại các cơ sở giáo dục, đào tạo như: tiền thuê nhà, điện, nước; tiền ăn, mua vật dụng cá nhân và các nhu cầu khác. Số tiền sinh hoạt phí HSSV phải chi trả hàng tháng không phụ thuộc vào cơ sở đào tạo là công lập hay ngoài công lập, trình độ đào tạo, chương trình đào tạo mà chủ yếu phụ thuộc vào mức giá cả sinh hoạt của địa phương, nơi HSSV tạm trú để theo học.
Thời gian theo học của HSSV tại các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp thường dao động từ 2-5 năm, đặc biệt có những chương trình kéo dài từ 6 đến 7 năm nên số sinh hoạt phí mà HSSV phải chi trả trong thời gian đi học là không nhỏ. Do đó, để tiết kiệm sinh hoạt phí, HSSV thường ưu tiên lựa chọn thuê ký túc xá của các cơ sở đào tạo để ở, tự nấu ăn, đi lại bằng phương tiên công cộng,… Tuy nhiên, trên thực tế không phải cơ sở nào cũng có ký túc xá cho sinh viên thuê, một số ký túc xá có quy định cấm nấu ăn trong phòng,…Do đó, sinh hoạt phí đã, đang và sẽ còn là gánh nặng tài chính đối với mỗi HSSV, đặc biệt là những HSSV có hoàn cảnh khó khăn. Chi phí mua tài liệu học tập Chi phí mua tài liệu học tập là một khoản mục chi phí không thể thiếu trong quá trình học tập của HSSV. Theo thông lệ, HSSV theo học các chương trình giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, trong thời gian lên lớp nghe giảng, giảng viên chỉ nêu vấn đề, gợi ý phương pháp nghiên cứu, định hướng cách thức giải quyết vấn 9 đề, giới thiệu các tài liệu cần tìm đọc từ đó người học phải tự tìm những tài liệu này để mượn, thuê hoặc mua nhằm phục vụ mục đích học tập để nâng cao trình độ, mở rộng sự hiểu biết của mình.
Các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp đều phải đầu tư xây dựng thư viện để làm nơi học tập và nghiên cứu cho giảng viên và HSSV. Tại đây, HSSV có thể tìm và mượn một số tài liệu phục vụ mục đích học tập, nghiên cứu của mình. Trong trường hợp HSSV mượn được tài liệu của thư viện, đây là cách tốt nhất để HSSV tiết kiệm chi phí mua tài liệu học tập. Tuy nhiên, do khó khăn về tài chính, diện tích mặt bằng hạn hẹp,… một số cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp chưa đầu tư xây dựng được thư viện, hoặc có đầu tư nhưng với diện tích nhỏ, số đầu sách, tài liệu ít, chưa đáp ứng được nhu cầu mượn tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu của HSSV.
Trong những trường hợp này, HSSV phải tự mua tài liệu học tập, nghiên cứu với chi phí khá đắt đỏ.