chương I, điều 3: thông tin tín dụng là những thông tin liên quan đến khách hàng vay tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Tổ chức cấp tín dụng là các tổ chức hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng; tổ chức khác có cung cấp dịch vụ cho thuê tài sản, mua hàng trả góp, trả chậm và các dịch vụ khác có điều kiện về lãi suất, thời hạn, tiền thuê và biện pháp đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Hoạt động thông tin tín dụng là việc thu thập, xử lý, lưu giữ thông tin tín dụng và cung cấp sản phẩm thông tin tín dụng của công ty thông tin tín dụng. Sản phẩm thông tin tín dụng là các báo cáo thông tin, các ấn phẩm được Công ty Thông tin tín dụng tạo ra trên cơ sở thông tin tín dụng thu thập được để cung cấp cho các tổ chức tín dụng, các tổ chức khác và thể nhân.
Khái niệm về chấm điểm, xếp hạng tín dụng Khái niệm về chấm điểm tín dụng Theo công ty xếp hạng tín dụng Fico (Mỹ), chấm điểm tín dụng là một quy trình đánh giá khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính của khách hàng đối với ngân hàng như việc trả lãi và trả gốc nợ vay khi đến hạn hoặc các điều kiện tín dụng khác nhằm mục đích đánh giá, xác định rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Mức độ rủi ro tín dụng thay đổi theo từng đối tượng khách hàng và được xác 7 định thông qua quá trình đánh giá bằng thang điểm dựa vào các thông tin tín dụng có sẵn của khách hàng tại thời điểm chấm điểm tín dụng khách hàng. Trên cơ sở đó, các Ngân hàng xác định có cho vay hay không cho vay, hạn mức cấp tín dụng, khả năng thu hồi vốn… nhằm đầu tư có hiệu quả, thu hồi vốn và lãi [20]. Khái niệm về chấm điểm tín dụng khách hàng thể nhân Điểm tín dụng thể nhân là điểm và hạng để dự đoán là khả năng có thể xảy ra nợ xấu tín dụng trong khoảng thời gian nhất định (thường là 12 tháng) với đối tượng là khách hàng vay thể nhân [20].
Chấm điểm tín dụng thể nhân là một quy trình đánh giá khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính của một khách hàng thể nhân đối với ngân hàng nhằm xác định rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng cho vay thông qua việc phân tích, đánh giá, cho điểm và tổng hợp điểm từ các tiêu thức thuộc hạng mục rủi ro tài chính, và rủi ro phi tài chính. Phương pháp này đưa ra “điểm” mà ngân hàng có thể sử dụng để xếp loại những khách hàng vay xét về độ mạo hiểm. Để tạo dựng một mẫu chấm điếm, hay một “bảng điểm”, những nhà phân tích phân tích dữ liệu trong hiện tại và quá khứ về sự thực hiện các khoản vay trước đó để quyết định những đặc điểm của người đi vay nào là hữu ích trong việc phỏng đoán xem liệu khoản vay đó có phát huy tác dụng hay không. Một mẫu hình được thiết kế tốt sẽ đưa ra một mức điểm cao nhiều hơn cho những người đi vay có khả năng sử dụng vốn vay hiệu quả và ngược lại.
Kể cả một hệ thống chấm điểm tốt cũng không dự đoán chắc chắn được khả năng hoàn trả vốn vay của khách hàng nhưng nó cũng đưa ra được những dự đoán khá chính xác về sai sót mà một khách hàng đi vay với những đặc điểm nhất định có thể mắc phải. Để xây dựng một hình mẫu tốt, những người xây dựng phải có dữ liệu chính xác phản ánh trong cả giai đoạn, trong điều kiện kinh tế tốt và xấu. Khái niệm về xếp hạng tín dụng Theo công ty Standards & Poor: Xếp hạng tín dụng là những ý kiến đánh giá hiện tại về rủi ro tín dụng, chất lượng tín dụng, khả năng và thiện ý của chủ thể đi vay trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn [15]. 8 Theo công ty Moody's: Xếp hạng tín dụng là những ý kiến đánh giá về chất lượng tín dụng và khả năng thanh toán nợ của chủ thể đi vay dựa trên những phân tích tín dụng cơ bản và biểu hiện thông qua hệ thống ký hiệu từ Aaa cho đến C [18].
Theo từ điển thị trường chứng khoán: Xếp hạng tín dụng là cách ước tính chính thức tín nhiệm từ trước đến nay của thể nhân hay công ty về khả năng chi trả bao gồm tất cả các số liệu kiểm tra, phân tích, hồ sơ lưu trữ về khả năng trách nhiệm tín dụng của thể nhân và công ty kinh doanh. Tại nhiều nước trên thế giới, hầu hết các công ty lớn và các tổ chức cho vay đều thiết lập bảng xếp hạng tín dụng đối với các khách hàng hiện tại cũng như tương lai của họ. Khái niệm về xếp hạng tín dụng khách hàng thể nhân Từ những khái niệm trên, ta có thể định nghĩa xếp hạng tín dụng khách hàng thể nhân như sau: Xếp hạng tín dụng khách hàng thể nhân là việc đưa ra những ý kiến đánh giá về rủi ro tín dụng, chất lượng tín dụng, khả năng và thiện ý của chủ thể đi vay tại một thời điểm nhất định trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn, dựa trên tất cả các số liệu kiểm tra, phân tích, hồ sơ lưu trữ về khả năng trách nhiệm tín dụng của thể nhân. Khái niệm về hệ thống chấm điểm, xếp hạng tín dụng khách hàng thể nhân Trước tiên, chúng ta cần tìm hiểu khái niệm hệ thống nói chung.
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hệ thống, song mỗi định nghĩa thường chỉ được đề cập đến một mô hình nhất định về hệ thống và thường phụ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu cụ thể của chúng ta. Một cách tổng quát, hệ thống được định nghĩa như là một tập hợp các phần tử có liên hệ với nhau để tạo thành một thể chung [15]. Khái niệm phần tử của hệ thống mang tính tương đối, vì chúng ta chỉ có thể phân biệt được phần tử này với phần tử kia khi dựa vào các thuộc tính của chúng và việc gán cho chúng những thuộc tính nào phụ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu. Tương tự, các mối quan hệ của các phần tử cũng chỉ là cách chúng ta muốn dùng hệ thống đặt ra nhằm để giải thích những hiện tượng mà chúng ta muốn tìm hiểu về bản chất.
9 Từ khái niệm hệ thống nói chung, có thể đưa ra định nghĩa về các hệ thống thông tin như sau: Hệ thống thông tin là hệ thống tiếp nhận các nguồn dữ liệu như các yếu tố đầu vào và xử lý chúng thành các sản phẩm thông tin là các yếu tố đầu ra. Định nghĩa về hệ thống chấm điểm, xếp hạng tín dụng khách hàng thể nhân: Là hệ thống tiếp nhận các nguồn dữ liệu về chỉ tiêu tài chính và phi tài chính của khách hàng thể nhân, xử lý chúng theo phương pháp dựa vào một thang điểm thống nhất, chấm điểm, xếp hạng khách hàng nhằm mục đích đo lường rủi ro tín dụng đối với từng khách hàng. Thành phần cơ bản của hệ thống chấm điểm, xếp hạng tín dụng khách hàng thể nhân gồm: Con người: Bao gồm người sử dụng và các chuyên gia về hệ thống thông tin. Người sử dụng hay khách hàng là người trực tiếp sử dụng hệ thống thông tin và các sản phẩm thông tin mà hệ thống tạo ra.
Các chuyên gia về hệ thống thông tin là người xây dựng và vận hành hệ thống đó. Đó là các nhà phân tích hệ thống, các nhà lập trình, các kỹ sư tin học,… Phần cứng: Bao gồm tất cả các thiết bị và các phương tiện kỹ thuật dùng để xử lý thông tin. Trong đó, chủ yếu là máy tính, các thiết bị ngoại vi dùng để lưu trữ và vào ra dữ liệu, mạng lưới viễn thông dùng để truyền dữ liệu. Phần mềm: Bao gồm các chương trình máy tính, các phần mềm hệ thống, các phần mềm chuyên dụng và các thủ tục dành cho người sử dụng.
Nguồn dữ liệu: Dữ liệu là các vật liệu thô của hệ thống thông tin. Dữ liệu có thể có nhiều dạng khác nhau, có dữ liệu văn bản, có dữ liệu bằng hình ảnh,… Các nguồn dữ liệu của hệ thống thông tin được tổ chức thành: Các cơ sở dữ liệu, tổ chức và lưu giữ các dữ liệu đã được xử lý. Các cơ sở mô hình, lưu giữ các mô hình khái niệm, mô hình logic, mô hình toán học diễn đạt các mối quan hệ, các quy trình tính toán, các kỹ thuật phân tích. Các cơ sở tri thức, lưu giữ các tri thức ở dạng khác nhau như: các sự kiện, các nguyên tắc suy diễn, và các đối tượng khác nhau.
Thủ tục: Các quy trình hoạt động, các thủ tục giao tiếp người – máy. Mục đích, ý nghĩa của việc chấm điểm, xếp hạng tín dụng khách hàng thể nhân Mục đích Chấm điểm tín dụng thể nhân trong hoạt động thông tin tín dụng nhằm giúp ngân hàng kiểm soát mức độ tín nhiệm khách hàng, thiết lập hạn mức cho vay phù hợp với từng nhóm khách hàng. Ngân hàng có thể đánh giá hiệu quả danh mục cho vay thông qua giám sát sự thay đổi dư nợ và phân loại nợ trong từng nhóm khách hàng đã được chấm điểm, xếp hạng, qua đó, điều chỉnh danh mục theo hướng ưu tiên nguồn lực vào nhóm những khách hàng an toàn. Hệ thống chấm điểm tín dụng thể nhân tiếp cận đến tất cả các yếu tố có liên quan đến rủi ro tín dụng.
Thứ hạng cao của một khách hàng đi vay chưa đủ đảm bảo chắc chắn khả năng thu hồi đầy đủ các khoản nợ gốc và lãi, mà chỉ là cơ sở để tổ chức tín dụng dự kiến mức độ rủ ro tín dụng có liên quan đến khách hàng và đưa ra quyết định đúng đắn về việc cấp tín dụng.