Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về thuế Thu nhập cá nhân và quản lý thuế Thu nhập cá nhân Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế TNCN ở các doanh nghiệp tại CCT huyện An Dương, Hải Phòng giai đoạn 2014-2018 Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế Thu nhập cá nhân ở các doanh nghiệp tại Chi cục thuế huyện An Dương. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1. Cơ sở lý luận về thuế Thu nhập cá nhân và quản lý thuế Thu nhập cá nhân 1. Thuế Thu nhập cá nhân 1.
Khái niệm Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế chủ yếu đánh vào thu nhập của cá nhân nhằm thực hiện công bằng xã hội, động viên một phần thu nhập của cá nhân vào ngân sách nhà nước và có thể được sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc khuyến khích làm việc hay nghỉ ngơi, thu hay không thu thuế đối với các khoản thu nhập từ kinh doanh, đầu tư, vv… Tùy theo tính chất của các khoản thu nhập cá nhân, người ta chia thu nhập làm hai loại: thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên để tính thuế cho phù hợp. Vai trò - Góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước: Thuế thu nhập cá nhân ngày càng trở thành nguồn thu quan trọng cho ngân sách Nhà nước khi tiềm năng các sắc thuế khác đang trên đà giảm. Nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển, thu nhập bình quân đầu người của cá nhân ngày càng tăng từ đó thuế thu nhập cá nhân sẽ góp phần quan trọng vào việc tăng thu cho ngân sách Nhà nước. - Góp phần thực hiện công bằng xã hội: Thông thường, thuế thu nhập cá nhân chỉ đánh vào thu nhập cao hơn mức khởi điểm thu nhập chịu thuế, không đánh thuế vào những cá nhân có thu nhập vừa đủ nuôi sống bản thân và gia đình ở mức cần thiết.
Thêm vào đó khi thu nhập cá nhân tăng lên thì tỷ lệ thu thuế cũng tăng thêm. Xét trên phương diện công bằng xã hội và phương diện công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước thì thuế thu nhập cá nhân có vị trí cực kỳ quan trọng, do đó việc điều tiết thuế thu nhập đối với những người có thu nhập cao là cần thiết, đảm bảo thực hiện chính sách công bằng xã hội. 5 Ngoài các mục tiêu chính là đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và công bằng xã hội thuế TNCN giúp thực hiện được các mục tiêu: - Góp phần điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế: Thông qua mức thuế TNCN và chế độ miễn giảm có thể khuyến khích, đầu tư, tiết kiệm,.Vì vậy ở mỗi thời kỳ phát triển kinh tế khác nhau, tùy theo yêu cầu điều tiết vĩ mô nền kinh tế mà chính sách thuế TNCN ở mỗi nước được xây dựng phù hợp. - Góp phần quản lý thu nhập dân cư: Thông qua công tác kiểm tra, xác minh được thu nhập tính thuế TNCN, cơ quan nhà nước có thể phát hiện những khoản thu nhập hợp pháp hoặc bất hợp pháp để có những biện pháp xử lý phù hợp.
Từ đó Chính phủ có thể có cơ sở để khái quát và đánh giá tình hình thu nhập thực của xã hội trên cơ cấu dân cư để đề ra các chính sách phù hợp. Đặc điểm [2],[4] Thuế thu nhập cá nhân có những đặc điểm sau đây: - Là loại thuế đánh lên tất cả cá nhân có thu nhập chịu thuế. Vì là loại thuế trực thu nên người chịu thuế thường khó có thể chuyển gánh nặng về thuế cho người khác. Cho nên tâm lý của người chịu thuế thường nặng nề hơn khi thực hiện nghĩa vụ thuế này so với các loại thuế gián thu.
Cần lưu ý là vai trò của người chi trả thu nhập khác với vai trò của người chịu thuế. Người chi trả thu nhập theo quy định của pháp luật là phải khấu trừ số thuế mà cá nhân có nghĩa vụ nộp cho nhà nước trước khi chi trả thu nhập. - Nhà nước có thể sử dụng loại thuế này để khuyến khích làm việc hay nghỉ ngơi thông qua biểu thuế. Ví dụ như nhà nước có thể khuyến khích người lao động làm thêm giờ, khuyến khích người dân đầu tư hay không đầu tư, tiết kiệm hay không tiết kiệm thông qua việc đánh thuế hay không đánh thuế thu nhập đối với thu nhập từ khoản thu nhập tăng thêm do làm thêm giờ, hoạt động đầu tư, thu nhập từ lãi tiết kiệm.
- Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế phức tạp. Việc quản lý thuế, thu thuế đòi hỏi trình độ, kỹ thuật cao, chi phí quản lý thuế lớn để nắm được các nguồn thu nhập của người chịu thuế, tình trạng cư trú của họ ở Việt Nam, vv… 6 1. Quản lý thuế Thu nhập cá nhân 1. Khái niệm Quản lý thuế thu nhập cá nhân là sự tác động có chủ đích của các cơ quan chức năng trong bộ máy nhà nước với quá trình tính và thu thuế thu nhập cá nhân để thay đổi quá trình này nhằm tạo nguồn thu cho Ngân sách và đạt được các mục tiêu mà Nhà nước đã đặt ra.
Mục tiêu Công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản sau: - Tăng cường tập trung, huy động đầy đủ và kịp thời số thu cho ngân sách nhà nước trên cơ sở không ngừng nuôi dưỡng và phát triển tiềm năng lớn của nguồn thu này. Vì vậy, làm tốt công tác quản lý thuế nói chung và thuế thu nhập cá nhân nói riêng sẽ có tác dụng lớn trong việc tập trung, huy động đầy đủ và kịp thời số thu cho ngân sách nhà nước. - Góp phần tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho các tổ chức kinh tế và dân cư. Qua công tác tổ chức thực hiện và thanh tra việc chấp hành các luật thuế nói chung và thuế thu nhập cá nhân nói riêng, cùng với việc tăng cường tính pháp chế của chính sách thuế này, ý thức chấp hành chính sách thuế sẽ được nâng cao.
Người dân mua hàng hóa, dịch vụ với giá cả đã có thuế trong đó, tác động về thuế là ít. Do đó, ý thức về nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước nhìn chung là thấp hơn. Tuy nhiên việc phát huy những vai trò đó không thể tự nó đạt được mà để có kết quả thì việc thực hiện đó phải thông qua những nội dung công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân. Nội dung, hình thức quản lý thuế Thu nhập cá nhân (1) Nội dung quản lý thuế TNCN [3], [4] a, Lập dự toán thu thuế TNCN Khâu đầu tiên trong chu trì ngân sách nhằm xây dựng khả năng huy động nguồn thu của địa phương trong một năm ngân sách phục vụ nhu cầu chi tiêu 7 cho phát triển kinh tế xã hội.
Từ đó giao nhiệm vụ thu phù hợp với khả năng cân đối ngân sách và chức năng, nhiệm vụ của đơn vị quản lý thu. Do chính sách của thuế TNCN liên tục dược thay đổi nên việc lập dự toán phải luôn bám sát các quy định tại các Thông tư hướng dẫn, sửa đổi bổ sung để loại trừ một số khoản dự kiến sẽ không thu trong tương lai do có các chính sách Quốc hội, Chính phủ đưa ra để thúc đẩy nền kinh tế, kích thích tiêu dùng. b, Tổ chức thực hiện Để tổ chức tốt công tác quản lý thuế, trước hết phải thực hiện tốt việc tổ chức bộ máy thu thuế. Cơ quan thuế các cấp thực hiện sắp xếp, bố trí công chức thuế vào các vị trí quản lý phù hợp khả năng, sở trường của cán bộ thuế và để thực hiện tốt công tác quản lý thu thuế TNCN, cần phải xây dựng một đội ngũ công chức thuế chuyên trách được đào tạo chuyên sâu trong công tác quản lý thuế TNCN.
Quản lý thuế TNCN là quản lý theo chức năng do vậy bộ máy quản lý thuế tại các đơn vị trực thuộc Tổng cục thuế được chuyên trách và đào tạo chuyên sâu trong công tác quản lý thuế TNCN. Đội ngũ này được tổ chức một cách thống nhất, đồng bộ và có khoa học. c, Công tác chỉ đạo điều hành quản lý thuế TNCN Việc chỉ đạo, điều hành trong quản lý thuế TNCN được thể hiện ở việc thành lập các ban chỉ đạo, tổ giúp việc từ Trung ương đến địa phương. Để triển khai tốt luật thuế TNCN nhất thiết phải có chỉ thị, quyết định, nghị quyết, chương trình hành động cụ thể … để làm cơ sở cho cấp trên rà soát, đánh giá được tình hình thu thuế.
Để luật thuế đi vào lòng người, dễ hiểu và chấp hành đúng thì việc tuyên tryền, giải đắp được các thắc mắc trong quá trình triển khai của các đơn vị và áp dụng thực hiện của người nộp thuế có vai trò hết sức quan trọng. Ngoài ra sự phối hợp với các cơ quan đơn vị có liên quan trong việc triển khai luật thuế TNCN cũng là yếu tố quan trọng sự thành bại của luật thuế khi được ban hành. 8 d, Công tác thanh tra, kiểm tra Đây là một nội dung quan trọng của công tác quản lý thu thuế TNCN. Đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế là các tổ chức kinh tế và cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế TNCN cho Nhà nước và bao gồm cả các đơn vị thuộc ngành thuế.
Mục tiêu thanh tra, kiểm tra thuế TNCN là phát hiện và xử lý các trường hợp sai phạm nhằm giảm bớt những tổn thất cho Nhà nước và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Đồng thời qua quá trình thanh tra, kiểm tra cơ quan thuế có thể phát hiện những thiếu sót, bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện, từ đó tìm ra những hướng giải quyết nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN. Thanh tra, kiểm tra thuế TNCN được thực hiện dưới các hình thức và phương pháp khác nhau. - Hình thức thanh tra, kiểm tra thường xuyên mang tính định kỳ, không phụ thuộc vào việc có xảy ra vụ việc hay không trong các doanh nghiệp, công ty và các cơ quan quản lý thuế.
- Hình thức thanh tra, kiểm tra đột xuất là hình thức mang tính chất bất thường và đối tượng kiểm tra không được biết trước. Hình thức này được tiến hành khi có những vụ việc xảy ra từ phía người nộp thuế hoặc trong cơ quan thuế, từ các cơ quan thuế khác để có biện pháp xử lý.