CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ GIÁM SÁT AN NINH MẠNG.1 Giám sát An ninh mạng. Giám sát An ninh mạng là hệ thống được xây dựng nhằm mục đích thu thập, theo dõi, phân tích các sự kiện, dữ liệu ra vào mạng từ đó phát hiện các tấn công mạng và đưa ra cảnh báo cho hệ thống mạng được giám sát. Về bản chất đây là hệ thống phân tích sự kiện, luồng dữ liệu mà không tích hợp các giải pháp ngăn chặn vào trong đó. Hệ thống này hoạt động độc lập và chỉ thu thập nhật ký hệ thống của các thiết bị, ứng dụng hay các luồng dữ liệu chứ không ảnh hưởng đến chúng.
Trong các hệ thống thông tin, việc khắc phục các sự cố thường tốn một chi phí rất lớn. vì vậy, giải pháp giám sát mạng để phát hiện sớm các sự cố là một sự lựa chọn được nhiều người ưa thích nhằm mang lại hiệu quả cao với chi phí vừa phải.2 Mô hình hệ thống và chức năng chính. Về cơ bản hệ thống Giám sát an ninh mạng (GSANM) tuân thủ theo mô hình SIEM (Security Information and Event Management). Đây là mô hình chung cho hệ thống GSANM được sử dụng rất nhiều trên thế giới và các nhà sản xuất các thiết bị GSANM cũng dựa trên mô hình chuẩn này.1 Các thành phần chính.
Hệ thống Giám sát an ninh mạng bao gồm các thành phần chính sau: Hình 1-1: Thành phần của GSANM Phạm Quang Tuyến _ CT1802 8 Hệ thống phát hiện cảnh báo nguy cơ tấn công mạng CONSOLE: Là nơi xử lý, lưu trữ các sự kiện an ninh được cảnh báo, các sự kiện này được gửi lên từ Event Processor và Flow Processor. Ngoài ra tại đây còn chứa các tập luật xử lý các dữ liệu, CONSOLE có khả năng hoạt động độc lập. CONSOLE có hai giao diện, giao diện command line giúp người quản trị cấu hình, xử lý các lỗi hệ thống,. và giao diện web là nơi hiển thị các cảnh báo cũng như các sự kiện thu thập được.
Các cảnh báo sẽ được lưu trữ tùy vào cấu hình quản trị trong bao lâu, thường là một năm cho mỗi hệ thống. Năng lực hoạt động của CONSOLE tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: Đường truyền mạng, cấu hình phần cứng, … thông thường hệ thống hoạt động với công suất 1000EPS và 100000FPM. Khi hệ thống GSANM được thiết lập và cấu hình thì CONSOLE sẽ tự động cấu hình tương ứng cho các thiết bị khác một cách chủ động sau khi kết nối vào các thiết bị thông qua cổng 22. Từ đó các việc cấu hình các thiết bị trong hệ thống GSANM có thể được thực hiện thông qua CONSOLE bằng hai cách đó là qua giao diện Web với cổng 443 hoặc qua giao diện command line.
EVENT PROCESSOR (EP): Đây là nơi xử lý các sự kiện được gửi về từ Event Collector. Các sự kiện này sẽ được xử lý thông qua các tập luật tại đây. Nếu là cảnh báo hoặc các sự kiện từ các thiết bị an ninh đưa ra cảnh báo thì nó sẽ được gửi thẳng trực tiếp lên CONSOLE để xử lý. Nếu là các sự kiện không đưa ra cảnh báo sẽ được lưu trữ tại đây mà không chuyển lên CONSOLE.
Các sự kiện được lưu trữ tùy theo cấu hình của quản trị, thường là ba tháng cho các sự kiện không đưa ra cảnh báo. Các nhật ký hệ thống không đưa ra cảnh báo nó sẽ được quản lý qua giao diện web của CONSOLE. FLOW PROCESSOR (FP): Phạm Quang Tuyến _ CT1802 9 Hệ thống phát hiện cảnh báo nguy cơ tấn công mạng Đây là nơi xử lý luồng dữ liệu, FP nhận dữ liệu từ Flow Collector và xử lý dựa trên các tập luật của FP. Sau đó, các cảnh báo sẽ được nó gửi lên CONSOLE còn các sự kiện không đưa ra cảnh báo sẽ được lưu trữ tại FP và được quản lý dựa trên giao diện web của CONSOLE.
Thời gian lưu trữ các sự kiện này tùy thuộc vào cấu hình thường là ba tháng. EVENT COLLECTOR (EC): Là nơi thu thập nhật ký hệ thống, tiếp nhận các nhật ký hệ thống từ các thiết bị, hoặc các ứng dụng gửi về. Tại đây nhật ký hệ thống sẽ được mã hóa, nén và gửi về EP qua cổng 22. Sau đó nó sẽ được EP phân tích và xử lý.
Đối với EC có rất nhiều phương pháp lấy nhật ký hệ thống khác nhau VD: Cài đặt agent lên các máy tính cần thu thập và gửi nhật ký hệ thống đã được chỉ định về cho EC. Tại CONSOLE người quản trị sẽ cấu hình cho EC thu nhận các nhật ký hệ thống từ các agent này. Sau đó các nhật ký hệ thống này sẽ được quản lý dựa trên giao diện web của CONSOLE. EC chỉ có khả năng thu thập các sự kiện mà không có khả năng thu thập các luồng dữ liệu.
Với một thiết bị, dịch vụ như IIS, thường có khoảng 20 sự kiện trên giây (20 EPS). FLOW COLLECTOR (FC): Đây là nơi thu thập các luồng dữ liệu từ mạng được giám sát. FC thường thu nhận luồng dữ liệu từ các switch có chức năng span port của Cisco. Sau đó dữ liệu cũng được nén, mã hóa và chuyển về FP xử lý thông qua cổng 22.
CONSOLE sẽ cấu hình cho FC lắng nghe ở cổng Ethernet được kết nối với span port để thu thập dữ liệu. Khả năng xử lý hiện tại trên hệ thống GSANM đối với FC là 220000FPM. Các thiết bị phần cứng EC và FC của hệ thống GSANM có chức năng thu thập nhật ký hệ thống ở dạng “thô” là dạng chưa được phân tích. Đối với mỗi thiết bị này người quản trị hệ thống cần cung cấp địa chỉ IP tĩnh public, Phạm Quang Tuyến _ CT1802 10 Hệ thống phát hiện cảnh báo nguy cơ tấn công mạng sau đó việc trao đổi dữ liệu qua hệ thống sẽ được mã hóa, nén lại và gửi tới EP, FP để phân tích và xử lý thông qua cổng 22.
CONSOLE sẽ hiển thị dữ liệu lên giao diện web để người quản trị có thể sẽ xem các cảnh báo này thông qua cổng 443.2 Phân loại Mô hình GSNAM được triển khai có hai dạng chính sau: Dạng phân tán (Distributed): Hình 1-2: Mô hình GSANM phân tán Là mô hình mà trong đó có hệ thống xử lý được đặt ở trung tâm GSANM và mọi hoạt động của hệ thống như: Các sự kiện, luồng dữ liệu, …sẽ được xử lý tại trung tâm sau đó được hiển thị lên giao diện Web site. Đối với mô hình này thường đòi hỏi một sự đầu tư quy mô và lực lượng con người phải nhiều mới đủ khả năng để vận hành hệ thống này. Dạng hoạt động độc lập (All in one): Phạm Quang Tuyến _ CT1802 11 Hệ thống phát hiện cảnh báo nguy cơ tấn công mạng Hình 1-3: Mô hình GSANM tập trung. Đây là mô hình mà hệ thống được xây dựng riêng lẻ cho các đơn vị, và không liên quan tới nhau, có nghĩa là hệ thống hoạt động độc lập.
Các nhật ký hệ thống và luồng dữ liệu được trực tiếp thu thập tại mạng con, sau đó đẩy về thiết bị GSANM và tại đây luồng dữ liệu sẽ được xử lý. Tuy nhiên, mô hình này phù hợp cho các ngân hàng và đơn vị nhỏ và yêu cầu về đầu tư và lực lượng con người không cao.3 Chức năng Đối với hệ thống GSANM chức năng chính của nó là sẽ thu thập các thành phần sau: Các sự kiện an ninh (Securtity Event): Được sinh ra từ các ứng dụng hoặc thiết bị như: Nhật ký hệ thống IIS, Firewall, VPN (Virtual Private Network), IDS (Intrusion Detection System), IPS (Intrusion Prevention System), … Bối cảnh hoạt động mạng (Network activity context): Tầng 7 bối cảnh ứng dụng từ lưu lượng mạng và lưu lượng các ứng dụng. Thông tin hệ điều hành: Tên nhà sản xuất và chi tiết về số phiên bản. Phạm Quang Tuyến _ CT1802 12 Hệ thống phát hiện cảnh báo nguy cơ tấn công mạng Các nhật ký hệ thống ứng dụng: Kế hoạch nguồn lực doanh nghiệp (Enterprise Resource Planning – ERP), quy trình làm việc, cơ sở dữ liệu ứng dụng, nền tảng quản lý,.
Với mỗi dòng nhật ký hệ thống sinh được tính là một sự kiện, các sự kiên được tính trên giây (EPS), và xử lý các luồng dữ liệu này được tính trên phút (FPM) sau đó hệ thống sẽ tiến hành phân tích bằng các bộ luật và đưa ra các cảnh báo cần thiết tới nhà quản trị hệ thống.3 Phát hiện và chống xâm nhập mạng 1.1 Hệ thống phát hiện xâm nhập (IDS).2 Hệ thống chống xâm nhập (IPS). IPS (Intrusion Prevention Systems) là hệ thống theo dõi, ngăn ngừa kịp thời các hoạt động xâm nhập không mong muốn. Chức năng chính của IPS là xác định các hoạt động nguy hại, lưu giữ các thông tin này. Sau đó kết hợp với firewall để dừng ngay các hoạt động này, và cuối cùng đưa ra các báo cáo chi tiết về các hoạt động xâm nhập trái phép trên.
Hệ thống IPS được xem là trường hợp mở rộng của hệ thống IDS, cách thức hoạt động cũng như đặc điểm của 2 hệ thống này tương tự nhau. Điểm khác nhau duy nhất là hệ thống IPS ngoài khả năng theo dõi, giám sát thì còn Phạm Quang Tuyến _ CT1802 13 Hệ thống phát hiện cảnh báo nguy cơ tấn công mạng có chức năng ngăn chặn kịp thời các hoạt động nguy hại đối với hệ thống. Hệ thống IPS sử dụng tập luật tương tự như hệ thống IDS.3 Nguyên lý hoạt động hệ thống Nguyên lý hoạt động của một hệ thống phát hiện và chống xâm nhập được chia làm 5 giai đoạn chính: Giám sát mạng, phân tích lưu thông, Liên lạc giữa các thành phần, Cảnh báo về các hành vi xâm nhập và cuối cùng có thể tiến hành phản ứng lại tùy theo chức năng của từng IDS.1 Giám sát mạng (monotoring) Giám sát mạng là quá trình thu thập thông tin về lưu thông trên mạng. Việc này thông thường được thực hiện bằng các Sensor.
Yêu cầu đòi hỏi đối với giai đoạn này là có được thông tin đầy đủ và toàn vẹn về tình hình mạng. Đây cũng là một vấn đề khó khăn, bởi vì nếu theo dõi toàn bộ thông tin thì sẽ tốn khá nhiều tài nguyên, đồng thời gây ra nguy cơ tắc nghẽn mạng. Nên cần thiết phải cân nhắc để không làm ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống. Có thể sử dụng phương án là thu thập liên tục trong khoảng thời gian dài hoặc thu thập theo từng chu kì.
Tuy nhiên khi đó những hành vi bắt được chỉ là những hành vi trong khoảng thời gian giám sát. Hoặc có thể theo vết những lưu thông TCP theo gói hoặc theo liên kết. Bằng cách này sẽ thấy được những dòng dữ liệu vào ra được phép.