GIÁO TRÌNH LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM TAP II Giáo trình này đã được Hội đồng nghiệm thu giáo trình Trường Đại học Luật Hà Nội (thành lập theo Quyết định số 1279/QĐ-ĐHLHN ngày 05 tháng 5 năm 2016 của Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội) đồng ÿ thông qua ngày 07 thang 6 năm 2016 và được Hiệu trưởng Trường Dai học Luật Hà Nội cho pháp xuất bản theo Quyết định số 2209/QĐ- DHLHN ngày 10 thang 6 năm 2019. 258-2021/CXBIPH/S1-03/CAND TRUONG ĐẠI HỌC LUẬT HA NOI GIÁO TRÌNH LUẬT LAO DONG VIET NAM TAP II NHA XUAT BAN CONG AN NHAN DAN HA NOI - 2021 Chú biên PGS. NGUYÊN HỮU CHÍ PGS. TRAN THỊ THUY LAM Tap thé tac gia PGS.
NGUYEN HUU CHI Chuong XI PGS. NGUYEN HIEN PHƯƠNG Chuong XII TS. DO THỊ DUNG Chuong XIII PGS. TRAN THỊ THUY LAM Chuong XIV TS.
DO NGAN BINH Chuong XV LỜI GIỚI THIỆU Giáo trình Luật lao động Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội được biên soạn trong thời gian gan đây nhất là năm 2009 và đã qua nhiều lan tái bản, sửa chữa, bổ sung. Hiện nay, tu sự cam kết với xã hội về chuẩn dau ra của nhà trường, với sự phát triển và đổi mới về nhận thức lí luận và thực tiễn trong lĩnh vực pháp luật lao động cho thay nhu cau can thiết biên soạn lại giáo trình Luật lao động Việt Nam. Đây là cuon giáo trình Luật lao động Việt Nam được biên soạn trên cơ sở kết hợp giữa lí luận và thực tiễn theo hướng chu trọng sự định hướng và gợi mở về nhận thức, tư duy cho người học dong thời bước dau vận dụng các kiến thức khoa học pháp li để giải quyết những van dé của pháp luật lao động mà thực tiễn đời sống đặt ra. Giáo trình Luật lao động Việt Nam được xuất bản với hai tập.
Tập I gom 10 chương với những nội dung lí luận chung và các chế định liên quan đến quan hệ lao động và tiêu chuẩn lao động. Tập I được sử dụng giảng dạy trong các chuyên ngành luật kinh tế và chuyên ngành luật. Tập II gồm 05 chương với một số các nội dung pháp luật lao động chuyên sâu được sử dụng giảng dạy cho chuyên ngành luật kinh tế. Giáo trình Luật lao động Việt Nam được biên soạn trên cơ sở có tiếp thu và phát triển giáo trình Luật lao động tại một số cơ sở đào tạo luật khác trên cả nước.
Mặc dù được biên soạn nghiêm túc, can trong với rất nhiều có gang của tập thể tác giả nhưng giáo trình không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Tập thể tác giả rất mong nhận được sự góp ý, phê bình của bạn đọc dé giáo trình được hoàn thiện hơn trong những lần xuất bản tiếp theo. Hà Nội, tháng 03 năm 2021 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BANG CHU VIET TAT BLDS Bộ luật dân sự BLLD Bộ luật lao động HDLD Hợp đông lao động ILO Tổ chức lao động quốc tế NLD Người lao động NSDLD Người sử dụng lao động Chương XI CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VE CHO THUÊ LAI LAO ĐỘNG 1.
Khái niệm cho thuê lại lao động Cho thuê lại lao động (Employee leasing; labour subleasing; dispatch worker.) là khái niệm không còn mới đối với các nước phát triển như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Anh, Thuy Sỹ, Đức, Singapore., nơi mà thị trường lao động diễn ra sự cạnh tranh giữa các lực lượng lao động tham gia vào thị trường và đây cũng là lực lượng lao động góp phan to lớn vào việc thúc đây sự phát triển của lực lượng lao động tại các quốc gia này, tạo ra sự linh hoạt cho NSDLĐ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc nhu cầu sử dụng nhân lực khác. Tuy nhiên, tại Việt Nam, cho thuê lại lao động là khái niệm còn tương đối mới và là khái niệm pháp lí mới được dé cập trong hệ thống các quy phạm pháp luật nói chung và các quy phạm pháp luật lao động nói riêng. Trong thực tiễn, hoạt động cho thuê lại lao động, hoạt động như một ngành, lĩnh vực cụ thể, đã xuất hiện và tham gia vào thị trường lao động tại Việt Nam từ những năm đầu thế kỉ XXI, đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động trong ngắn hạn hoặc yêu cầu hoàn thành hợp đồng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước. Rat nhiều nước trên thé giới đã thừa nhận và đưa vào hệ thống pháp luật các quy định về cho thuê lại lao động để điều chỉnh, kiểm soát hoạt động này như một ngành nghề, lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh và có quốc gia ban hành đạo luật riêng về cho thuê lại lao động như Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc, Vương quốc Anh, Thuy Dién.
Mặc dù các quốc gia có tên gọi khác nhau về cho thuê lại lao động như: lao động phái cử (dispatch worker), lao động cho thuê (employee leasing), lao động tạm thời (temporary employee), lao động theo hợp đồng dịch vụ (contract for services) hoặc lao động thuê ngoài (labour outsourcing)., nhưng đều dùng để chỉ hoạt động thuê lại lao động của một tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình từ một NSDLĐ khác dé thực hiện hoạt động san xuất, kinh đoanh ngắn hạn, tạm thời, hoàn thành dự án cụ thể hoặc phục vụ nhu cầu sinh hoạt, an ninh của cá nhân, gia đình thông qua hợp đồng hoặc thoả thuận cung cấp dịch vụ và trả phí cho NSDLĐ cung cấp dịch vụ và NSDLĐ cung cấp dich vụ trả lương, các lợi ích khác cho NLD. Entrepreneur Media Inc - Tổ chức cho thuê lao động chuyên nghiệp đã đưa ra định nghĩa cho thuê lại lao động như sau: “Cho thuê lao động là một thoả thuận hop đồng trong đó doanh nghiệp cho thuê lao động, cũng là một tô chức cho thuê lao động chuyên nghiệp (PEO), là NSDLĐ chính thức. Sự chia sẻ trách nhiệm trong việc sử dụng lao động giữa người cho thuê lại lao động và người thuê lại lao động là đặc trưng của quan hệ này. Người thuê lại lao động thực chất là người điều hành quản li mọi hoạt động lao động cua NLD được thuê.
Trong khi đó, người cho thuê lại lao động có trách nhiệm thực hiện các công việc như khai báo bảng lương, chỉ trả các khoản thuế cho NLĐ. Trách nhiệm của người thuê lại lao động là thanh toán chi phí cho người cho thuê lại lao động trong đó bao gồm các khoản lương, thuế, các lợi ich và chỉ phí hành chính. Con lại là trách nhiệm cua người cho xi] thuê lại lao động ”. ' Nguyên văn: “Employee leasing is a contractual arrangement in which the leasing company, also known as a professional employer organization (PEO), is 10 Trong bản báo cáo “Lao động cho thuê: Sự liên quan đến chương trình bảo hiém that nghiệp Liên bang - báo cáo cuôi cùng” đã đưa ra khái niệm cho thuê lao động: “NLĐ cho thuê trước hết là NLĐ kí hợp đông dài hạn với một cơ quan, nơi có trách nhiệm tìm việc làm, trả lương hoặc các khoản như lương, thuế và các quyên lợi cho những NLD đó.
Người cho thuê lại lao động là một tô chức hoạt động kinh doanh cho thuê NLĐ với các công tỉ khách hang. Thông thường, theo thoa thuận giữa NSDLD với người cho thuê lại lao động, NSDLĐ sẽ kí hop dong với người cho thuê lại lao động và cham đứt HĐLĐ với một số hoặc toàn bộ NLD. Sau đó những NLP này duoc người cho thuê lại lao động tuyển dụng và cho khách hàng của mình là NSDLĐ trước đây thuê lại dài hại. Người cho thuê lại lao động chỉ trả tiền công, các khoản thuế bao gôm cả bảo hiểm thất nghiệp.
Họ cũng thanh toán cho NLĐ các khoản phụ cấp khác. Những khoản này thường được tính trọn gói trong chỉ phí (thường được tính theo tỉ lệ trong bảng lương) quy định trong hợp dong thuê lao động. Hợp đồng thuê lại lao động có thể được gia hạn nhiễu lần”. the official employer.
Employment responsibilities are typically shared between the leasing company and the business owner (you, in this case). You retain essential management control over the work performed by the employees. The leasing company, meanwhile, assumes responsibility for work such as reporting wages and employment taxes. Your main responsibility is writing a check to the leasing company to cover the payroll, taxes, benefits and administrative fees.
The PEO does the rest”’, http://www.com/encyclopedia/leased-employees. ' KRA Corporation, Cho thué lao động: Sự liên quan đến chương trình bảo hiểm thất nghiệp Liên bang - Báo cáo cuối cùng, Báo cáo đệ trình Uỷ ban bảo hiểm thất nghiệp, Bộ Lao động Liên bang Hoa Kỳ theo hợp đồng số K-4280-3-00-80-30, 1996, p. Nguyên văn: “A leased employee is a worker who is essentially rented on a long-term basis from an agency that is responsible for employing the worker, paying the salary or wages and taxes, and providing benefits for that employee. An employee leasing company is an organization in the business of leasing employees to client firms.
Under a typical agreement, an employer contracts with a leasing company and dismisses some or all of its employees. These workers are then hired by the leasing company and leased back II Trong Luật số 88 ngày 05/7/1985 và các Luật sửa đổi, bỗ sung năm 1996, 1999, 2000, 2004 về đảm bảo thực hiện phù hợp các giao dịch phái cử lao động và cải thiện điều kiện làm việc của lao động phái cu (Act of Securing the proper Operation of Worker Dispatching Undertaking and Improved Working Conditions for Dispatched worker) của Nhật Bản (khoản 1 Điều 2) dua ra định nghĩa: “Phái cử NLĐ nghĩa là hành động làm cho một (hoặc nhiễu) NLĐ được thuê bởi một người thực hiện nghĩa vụ lao động cho một người khác theo sự chỉ dan của người khác đó, trong khi vẫn duy trì moi quan hệ việc làm với người thuê mướn dau tiên, trừ trường hợp người thuê mướn lao động đâu tiên thong nhất với NSDLĐ sau rằng những NLĐ nêu trên sẽ được tiếp nhận vào làm việc cho NSDLĐ sau”.` Khái niệm này được hiểu là một chủ thể thuê (tuyển dụng) một hoặc một số NLĐ, sau đó cho NSDLĐ khác thuê lại và chịu sự điều hành, quản lí của người đó nhưng mối quan hệ pháp lí về lao động vẫn duy trì với NSDLĐ trước và NSDLĐ trước phải có nghĩa vụ đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp cho NLĐ. Luật số 5512 ngày 20/02/1998 và các Luật sửa đổi, b6 sung về bảo vệ lao động phái cử của Hàn Quốc năm 2006, 2007, 2008, 2009 (khoản 1 Điều 2) định nghĩa: “Thudt ngữ “phái cử NLD” là một hệ thông trong đó chủ phái cử lao động, trong khi vẫn duy trì quan hệ lao động với NLD sau khi thuê mướn họ, cử NLD lam việc cho một chủ tiếp nhận lao động theo chỉ dẫn và mệnh lệnh to the original employer, now the client company, on a longterm basis.