Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Khái quát về giao lưu, tiếp biến văn hóa 1. Thuật ngữ và khái niệm Trong nghiên cứu văn hóa, giao lưu – tiếp biến là những thuật ngữ quen thuộc, mô phỏng một trong những hiện tượng văn hóa đặc thù nhất, có ở tất cả các cộng đồng văn hóa.
Theo đó, bất cứ cộng đồng văn hóa nào, nếu tồn tại trong mối quan hệ với các cộng đồng khác, đều có xu hướng giao thoa và tiếp biến. Hiện tượng này cũng xảy ra trong nội bộ của cộng đồng ấy, nếu có thể chia thành những nhóm nhỏ hơn: “Trong lịch sử phát triển của nhân loại, ngoại trừ những xã hội hoang sơ khi con người còn chìm đắm trong những bản năng thấp kém, do ngăn cách bởi địa hình cư trú hiểm trở hoặc do sự bảo thủ, thiển cận của thế chế sắc tộc nghiệt ngã, không có nền văn hóa lớn nhỏ nào lại không xảy ra các bước giao lưu với nền văn hóa khác, nhằm mục đích bồi bổ, đa dạng hóa lẫn nhau theo nhiều cấp độ khác nhau” [22] Từ góc nhìn lí luận văn hóa học, có rất nhiều thuật ngữ liên quan đến hiện tượng giao lưu văn hóa, ví dụ như: giao lưu văn hoá; tiếp xúc văn hoá; giao tiếp văn hoá; giao thoa văn hoá; trao đổi văn hoá; tiếp biến văn hoá; biến đổi văn hoá; di chuyển văn hoá; hỗn dung văn hoá; toàn cầu hoá văn hoá; đối thoại văn hoá; sốc văn hoá; cưỡng bức văn hoá; tích hợp văn hoá; khúc xạ văn hoá; liên văn hoá; thích nghi văn hoá; hội nhập văn hoá… Sự đa dạng về mặt thuật ngữ ấy chứng minh rằng giao lưu và tiếp biến văn hoá là quy luật có tính phổ biến trong tiến trình lịch sử của nhân loại. Thuật ngữ tiếp xúc, giao lưu và tiếp biến văn hóa cũng như những nghiên cứu lí luận về nó đã sớm được đề cập đến trong những nghiên cứu lí luận kinh điển như lý thuyết “thiên di của Friedrich Ratzel; lý thuyết vòng văn hóa của Leo Frobeunius (1873-1928); lý thuyết vòng văn hóa của Fritz Graebner (1877- 1934)… 10 Kế thừa các thành tựu ấy, ở Việt Nam, có nhiều công trình nghiên cứu tập trung làm rõ các vấn đề lí thuyết liên quan đến hiện tượng giao lưu, tiếp xúc, tiếp biến văn hóa. Tác giả Lê Thị Kim Loan giới thuyết: “Các thuật ngữ tiếp xúc, giao lưu và tiếp biến được dùng rất phổ biến trong lĩnh vực văn hóa.
Xét về mặt từ ngữ, đây là các thuật ngữ Hán – Việt nhằm mô tả các hiện tượng trong một quá trình tương tác giữa chúng với nhau. Thuật ngữ tiếp xúc văn hóa (cultural contests) được sử dụng để chỉ sự va chạm vào nhau của các nền văn hóa khi được đặt cạnh nhau. Thuật ngữ giao lưu văn hóa (cultural exchanges) được sử dụng để chỉ sự trao đổi, đan xen, chia sẻ giữa các nền văn hóa sau khi tiếp xúc với nhau. Thuật ngữ tiếp biến văn hóa là một thuật ngữ kép, được sử dụng để chỉ sự tiếp thu rồi biến đổi những yếu tố văn hóa trong quá trình tiếp xúc, giao lưu của một nền văn hóa này với một nền văn hóa khác.
“Acculturation” là thuật ngữ được phương Tây sử dụng để mô tả hiện tượng này và nó được hiểu là tiếp biến văn hóa. Nhìn nhận hiện tượng này trong bối cảnh mới, Nguyễn Thị Hương có bài viết: “Giao lưu và tiếp biến văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay” [18].Trong nghiên cứu của mình, tác giả cũng đã làm rõ thuật ngữ “giao lưu - tiếp biến văn hoá” từ nhiều nguồn tư liệu. Đó là dữ liệu của các nhà nhân chủng học (Hoa Kỳ) khi sử dụng thuật ngữ “giao lưu, tiếp biến văn hóa” (Acculturation) nhằm mô phỏng hiện tượng những nhóm người có văn hoá khác nhau, gặp nhau, gây ra sự biến đổi về mô thức văn hoá so với ban đầu của một hay cả hai phía. Trong ngôn ngữ của một số nước, các thuật ngữ chỉ hiện tượng này được hiểu là: trao đổi văn hoá (tiếng Anh); sự giao thoa, tiếp nhận giữa các nền văn minh (tiếng Pháp); di chuyển văn hoá (tiếng Tây Ban Nha)… Trong tiếng Việt, các thuật ngữ trên được dịch ra và hiểu: giao lưu, tiếp nhận, tương tác, tiếp biến, giao thoa, hội tụ, lắp ghép, tiếp xúc.
Các quan niệm liên quan đến hàm nghĩa của giao lưu văn hoá đều chỉ ra: ít nhất có hai hoặc nhiều hơn văn hoá của các chủ thể khác nhau, tiếp xúc với nhau. Trong quá trình đó có sự tiếp nhận, làm phong phú, hoặc có thể dẫn 11 đến sự thay đổi bên trong (về cả mô hình và phương thức) văn hoá của mỗi bên tham gia (tự nguyện hay áp đặt). Tóm lại, có thể hiểu: Giao lưu văn hóa là quá trình tiếp xúc, trao đổi, lựa chọn, tiếp nhận và chuyển hóa các giá trị văn hóa khác nhau, có thể (hoặc không) dẫn đến sự biến đổi văn hóa của mỗi chủ thể trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Tiếp biến văn hoá là quá trình mà trong đó các thành viên của cộng đồng văn hóa này chuyển từ lối sống riêng của mình để thích ứng với hoàn cảnh mới, dưới tác động của nhóm văn hóa khác.
Định nghĩa về “tiếp biến văn hoá” UNESCO bàn tới như sau: Tiếp biến văn hoá đó là sự tiếp xúc giữa những nhóm người khác nhau về văn hóa, do đó sinh ra những sự thay đổi về văn hoá (ứng xử, giao tiếp, tư duy…) ở trong mỗi nhóm. Tiếp biến văn hoá là quá trình một nhóm người hay một cá nhân qua tiếp xúc trực tiếp và liên tục với một nhóm khác, tiếp thụ (tự nguyện hay bắt buộc, toàn bộ hay từng bộ phận) nền văn hoá của nhóm này. Hiện nay, khái niệm tiếp biến văn hoá được quan niệm đơn giản hơn: Tiếp biến văn hoá là quá trình một cá nhân khi tiếp xúc trực tiếp và liên tục với một cộng đồng hay một cá nhân khác (có hoặc không có ý thức) hấp thụ nhiều hay ít nền văn hóa của cộng đồng hay các cá nhân này. Tiếp biến văn hoá có thể xảy ra theo con đường kinh tế, tôn giáo, tư tưởng, văn hoá nghệ thuật., trong bối cảnh hoà bình hay gắn với áp đặt về chính trị.
Có quan điểm cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, phải dùng thuật ngữ kép là “giao lưu - tiếp biến văn hoá”, mới phản ánh quá trình giao lưu, tiếp xúc, hỗn dung - cộng sinh văn hoá. Giao lưu và tiếp biến không những tạo cơ sở phát triển của các nền văn hoá, mà quá trình đó cũng giúp các chủ thể nhận thức, hướng đến tinh thần khoan dung văn hoá, tôn trọng và chủ động hơn trong việc phát triển và giữ gìn bản sắc văn hoá của mình. Như vậy, giao lưu, tiếp biến văn hóa mặc dù được định nghĩa khác nhau, nhưng nó luôn song song tồn tại và có quan hệ chặt chẽ. Tiếp biến văn hóa là sản phẩm của sự tiếp xúc và giao lưu.
Trong công trình của mình, chúng tôi sẽ 12 không nghiên cứu tách bạch hai khái niệm này mà coi nó như một “thuật ngữ kép” – như cách diễn giải của tác giả Nguyễn Thị Hương. Ở đó, yếu tố “giao lưu văn hóa” sẽ hiện ra rõ nét hơn trong quá trình tìm hiểu nguyên nhân, cách thức của sự tiếp xúc văn hóa Kinh – Tày, tạo ra những truyện thơ cùng cốt truyện. Yếu tố “tiếp biến văn hóa” lại được thể hiện ở sự tương đồng trong nội dung phản ánh và hình thức thể hiện của chúng. Các con đường giao lưu, tiếp biến văn hóa Sự giao lưu, tiếp biến văn hóa không xảy ra một cách ngẫu nhiên mà luôn được hình thành theo một con đường nhất định trong quá trình sinh tồn, phát triển, tương tác với các yếu tố ngoại sinh của một nền văn hóa.
Tiếp thu thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, nhà nghiên cứu Lê Thị Kim Loan đã chỉ ra rằng: có 4 con đường hay chính là 4 phương thức làm biến đổi văn hóa của các cộng đồng/tộc người trong lịch sử nhân loại. Chúng tôi xin được trích lược như sau: 1. Con đường di dân Sự tiếp xúc, giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa các cộng đồng/tộc người đã diễn ra ngay từ thời cổ đại. Có nhiều yếu tố là nguyên nhân của hoạt động này trong đó quan trọng nhất là các cuộc di dân tự nhiên xảy ra trong thời nguyên thủy và cổ trung đại.
Các cộng đồng/tộc người khác nhau, sau những cuộc di cư, đã đến với nhau, sống cạnh nhau, xen kẽ nhau, dẫn đến sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa. Trải qua hàng nghìn năm, mỗi cộng đồng một mặt bồi đắp nên bản sắc riêng của mình nhưng mặt khác góp phần cùng các cộng đồng lân bang tạo lập ra một vùng văn hóa với những đặc trưng riêng. Phải kể đến đó là vùng văn hóa vùng Ả Rập, vùng Đông Nam Á, Nam Á, vùng Bắc Á ở phương Đông; vùng Nam Âu, Bắc Âu, Tây Âu, và Đông Âu ở phương Tây. Sau thời kỳ trung cổ, có hai cuộc di dân lớn chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại đã được xác lập.
Ngoài các cuộc thiên di vĩ đại lớn trong lịch sử nhân loại, cho đến nay, sự di dân vẫn không ngừng diễn ra theo hướng đi từ vùng đất nghèo khổ, chiến tranh, bất ổn đến với các vùng đất sung túc, hòa bình. Ngay trong nội tại mỗi 13 quốc gia cũng diễn ra các cuộc di dân theo nhiều nguyên nhân: tự phát hoặc điều động của chính phủ. Ở nước ta, hiện tượng giao lưu, tiếp xúc văn hóa theo con con đường di dân được xác định từ thời sơ sử. Quá trình di dân, đan xen các cộng đồng và tộc người trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam vẫn không ngừng diễn ra trong suốt quá trình lịch sử để tạo ra các vùng và tiểu vùng văn hóa.
Trong bối cảnh hiện đại hóa đất nước, nhà nước chủ trương qui hoạch các vùng kinh tế trọng điểm, kéo theo việc giải phóng mặt bằng xây dựng, di dân sang các vùng sinh sống mới, phát triển sản xuất theo mô hình nông nghiệp hiện đại, đô thị hóa nông thôn… Điều này một mặt cưỡng bức một bộ phận cư dân phải di chuyển sang vùng đất mới, buộc phải tiếp xúc và giao lưu với cộng đồng dân cư đang sinh sống ổn định; mặt khác, những chính sách mới của chính phủ cũng có những lợi thế nhằm thu hút một bộ phận dân cư từ các vùng đất khác tình nguyện di cư về vùng đất được qui hoạch để tham gia sản xuất và sinh nhai.