phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung luận văn đƣợc cấu trúc thành 03 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận cơ bản về gián điệp mạng sử dụng mã độc Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động gián điệp mạng sử dụng mã độc hiện nay Chƣơng 3: Nguyên nhân, xu hƣớng và một số giải pháp phòng chống gián điệp mạng sử dụng mã độc tấn công doanh nghiệp lớn Việt Nam 9 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIÁN ĐIỆP MẠNG SỬ DỤNG MÃ ĐỘC Chƣơng 1 luận văn tập trung nghiên cứu làm rõ các khái niệm và nội hàm của an ninh mạng, khủng hoảng an ninh mạng, gián điệp mạng, gián điệp mạng sử dụng mã độc và nhận thức cũng nhƣ hành động của các quốc gia trên thế giới về những nguy cơ tấn công mạng. Đây là cơ sở lý luận quan trọng để chƣơng 2 phân tích thực tiễn bức tranh khủng hoảng an ninh mạng diễn ra trên thế giới và tại Việt nam thời gian qua. Nhận thức chung về an ninh mạng 1. Khái niệm an ninh mạng Các công trình nghiên cứu và các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam chƣa đƣa ra định nghĩa cụ thể về an ninh mạng, mà chỉ có khái niệm an toàn thông tin mạng.
Tại Điều 3 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Quốc hội khóa 13 giải thích từ ngữ an toàn thông tin mạng và xâm phạm an toàn thông tin mạng. Theo đó, an toàn thông tin mạng là sự bảo vệ thông tin, hệ thống thông tin trên mạng tránh bị truy nhập, sử dụng, tiết lộ, gián đoạn, sửa đổi hoặc phá hoại trái phép nhằm đảm bảo tính nguyên vẹn, tính bảo mật và tính 1 khả dụng của thông tin. Xâm phạm an toàn thông tin mạng là hành vi truy nhập, sử dụng, 2 tiết lộ, gián đoạn, sửa đổi, phá hoại trái phép thông tin, hệ thống thông tin. Theo Đại tá, PGS.
Trần Văn Hòa, Phó cục trƣởng Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, tác giả Môn học Hệ Thống thông tin và An ninh thông tin trong chƣơng trình MNS, có cùng quan điểm với Gasser, Morrie (1988) nhƣ sau: An ninh mạng (Cybersecurity or IT security): là bảo vệ hệ thống thông tin (phần cứng, 3 phần mềm, dữ liệu) trước các cuộc tấn công, cài mã độc để lấy cắp, phá hoại dữ liệu. Trên thế giới, khi tham chiếu một định nghĩa kỹ thuật hay sự hiểu biết về một chủ đề liên quan đến An ninh thông tin, mọi ngƣời thƣờng tìm đến thông tin từ các tổ chức nhƣ Viện tiêu chuẩn và Công nghệ quốc gia Hoa Kỳ (NIST-National Institute of Standards and Technology) hay Hiệp hội viễn thông quốc tế - Liên hiệp quốc (ITU-International Telecommunications Union). Theo (UN) International Telecommunications Union (ITU): An ninh mạng là tập hợp các công cụ, chính sách, khái niệm bảo mật, các biện pháp bảo vệ an ninh, các hướng dẫn, các cách tiếp cận quản trị rủi ro, các hành động, đào tạo, các cách làm tốt nhất, sự đảm bảo 1 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015-Quốc hội khóa 13 2 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015-Quốc hội khóa 13. 3 Giáo trình Hệ thống thông tin và An ninh thông tin, khoa HSB Đại học Quốc gia Hà nội – Đại tá, PGS.
Trần Văn Hòa, Phó cục trƣởng Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao. 10 và các công nghệ có thể được sử dụng để bảo vệ môi trường mạng, tài sản của người sử dụng và tổ chức. Tài sản của người sử dụng và tổ chức bao gồm các thiết bị máy tính được kết nối, nhân sự, cơ sở hạ tầng, các ứng dụng, dịch vụ, hệ thống viễn thông và toàn bộ thông tin được truyền và/hoặc lưu trữ trong môi trường mạng. An ninh mạng cố gắng đảm bảo việc đạt được và duy trì các đặc tính bảo mật cho tài sản của người dùng và tổ chức để đối phó với các rủi ro bảo mật có liên quan trong môi trường không gian mạng.
Các mục tiêu an ninh chung bao gồm: - Tính sẵn sàng, - Tính toàn vẹn, có thể bao gồm tính xác thực và chống thoái thác, 4 - Tính bảo mật. Theo NIST (National Institute of Standards and Technology): Định nghĩa cơ bản: Là hoạt động hoặc quy trình, khả năng hoặc năng lực, hoặc trạng thái mà nhờ đó hệ thống thông tin, truyền thông và các thông tin chứa trong hệ thống đó được bảo vệ khỏi bị hư hỏng, khỏi việc sử dụng, sửa đổi hoặc khai thác trái phép. Định nghĩa mở rộng: Là chiến lược, chính sách và các tiêu chuẩn liên quan đến an ninh và hoạt động trên không gian mạng, gồm toàn bộ các hành động làm giảm, làm giảm nhẹ khả năng xảy ra và làm giảm thiểu các nguy cơ; hoạt động hợp tác quốc tế, ứng phó sự cố, chống đỡ, khắc phục, thay đổi chính sách và phục hồi hoạt động; gồm cả hoạt động của mạng máy tính, đảm bảo thông tin, thực thi pháp luật, ngoại giao, quân sự và các sứ mệnh tình báo có liên quan đến an ninh và ổn định của cơ sở hạ tầng thông tin và truyền 5 thông toàn cầu. Có thể thấy, hiện nay còn nhiều định nghĩa khác nhau về an ninh mạng giữa các tổ chức trên thế giới.
Tuy nhiên, nội hàm chung của an ninh mạng là một quá trình liên tục, bao gồm những chính sách và hệ thống công nghệ, quản trị và ngƣời dùng, để đảm bảo tài sản thông tin trong môi trƣờng kết nối mạng đƣợc bảo vệ an toàn trƣớc mọi sự tấn công và rủi ro có thể xảy ra, gây tổn hại đến tính bảo mật, tính toàn vẹn và tính sẵn sàng của hệ thống. Phù hợp với mục đích của luận văn, tác giả chọn khái niệm của ITU sử dụng cho Luận văn. Với nội hàm an ninh phi truyền thống là an ninh của nhà nước, con người và doanh nghiệp với cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm, đảm bảo các mục tiêu chính là ổn 4 http://www.int/en/ITU-T/studygroups/com17/Pages/cybersecurity.aspx 5 CNSSI 4009, NIST SP 800-53 Rev 4, NIPP, DHS National Preparedness Goal; White House Cyberspace Policy Review, May 2009; http://niccs.gov/glossary#cybersecurity 11 6 định và phát triển bền vững cho chúng ta cái nhìn sâu sắc về bản chất an ninh phi truyền thống của an ninh mạng. Trong thời đại công nghệ kết nối vạn vật (IoT) và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, an ninh mạng là một trong những chủ đề an ninh phi truyền thống cấp bách nhất.
Nó đòi hỏi sự quan tâm và tập hợp toàn bộ sức mạnh và nguồn lực của cả cộng đồng để có những giải pháp tổng thể đảm bảo an ninh của toàn xã hội. Khủng hoảng an ninh mạng Chúng ta đã có khái niệm an ninh mạng, để làm rõ khái niệm khủng hoảng an ninh mạng, trƣớc hết, tác giả muốn làm rõ thêm về khái niệm khủng hoảng và quản trị khủng hoảng dƣới góc nhìn quản trị an ninh phi truyền thống. Theo Harvard Business Review, khủng hoảng là một tình thế đã đạt tới giai đoạn nguy hiểm, gay cấn, cần phải có sự can thiệp ấn tượng và bất thường để tránh hay để sửa 7 chữa thiệt hại lớn. Hoàng Đình Phi, khủng hoảng và rủi ro luôn đi cùng với nhau, rủi ro ở mức độ cao thành các mối đe dọa và không quản trị tốt sẽ xảy ra khủng hoảng.
Trong đó, cụ thể rủi ro đối với một cá nhân được hiểu là bất kỳ sự kiện, hành động, hay tác động nào có ảnh hưởng hay ngăn cản cá nhân đạt được các mong muốn hợp lệ. Rủi ro đối với một tổ chức được hiểu là bất kỳ sự kiện hay hành động nào có tác động hoặc ngăn cản doanh nghiệp trong việc đạt được các mục tiêu đã đề ra trong một khoảng thời gian nhất 8 định, đặc biệt là các mục tiêu an toàn, ổn định và phát triển bền vững doanh nghiệp. Những điểm yếu của doanh nghiệp, những nguy cơ đe dọa đem lại những rủi ro cho doanh nghiệp. Điểm yếu càng nghiêm trọng thì rủi ro càng cao, doanh nghiệp không khắc phục điểm yếu hoặc khắc phục không tốt sẽ là dẫn tới khủng hoảng.
Rủi ro là những nguy cơ mà chúng ta cần tiến hành các nghiệp vụ quản trị phòng ngừa, khủng hoảng đã xảy ra, tức là đã có tổn thất và công việc của doanh nghiệp là phải khắc phục. Thực tế, có rất nhiều tình huống rủi ro và khủng hoảng khó dự báo trƣớc, đặc biệt là ở môi trƣờng mạng khi mà rất nhiều rủi ro khó phát hiện và rất khó lƣợng hóa. Nó cho thấy vai trò của giám đốc công nghệ và hội đồng quản trị trong công ty phải đủ vững mạnh để có thể: - Kiểm soát đƣợc rủi ro, - Ngăn chặn các khủng hoảng nội bộ và 6 Giáo trình Tổng quan về quản trị an ninh phi truyền thống, khoa HSB trƣờng Đại học Quốc gia Hà Nội của tác giả Thƣợng tƣớng, TS. Nguyễn Văn Hƣởng, Thƣợng tƣớng, PGS.
Bùi Văn Nam, PGS. Hoàng Đình Phi 7 Quản lý khủng hoảng, “Cẩm nang Kinh doanh Harvard - Harvard Business Essentials” của Nhà xuất bản Tổng hợp TP. 8 Giáo trình Quản trị rủi ro và an ninh doanh nghiệp, khoa HSB trƣờng Đại học Quốc gia Hà Nội của tác giả PGS. Hoàng Đình Phi.
12 - Giảm thiểu đƣợc tác động của những cuộc khủng hoảng bất ngờ đến từ môi trƣờng bên ngoài. Quản trị rủi ro và khủng hoảng là một trong những nội dung quan trọng nhất của an ninh doanh nghiệp. Rủi ro có thể trở thành khủng hoảng khi doanh nghiệp không có đủ năng lực quản trị các chiến lƣợc và kế hoạch, không có chính sách nhân sự rõ ràng và thiếu năng lực quản trị nguồn nhân lực và nhân tài, không có đủ năng lực quản trị công nghệ và 9 sáng tạo. Nhƣ vậy, qua các khái niệm khủng hoảng và quan điểm về rủi ro, khủng hoảng và an ninh doanh nghiệp, dƣới góc độ quản trị an ninh phi truyền thống, có thể hiểu khủng hoảng an ninh mạng của doanh nghiệp là việc không quản trị tốt những mối đe dọa, rủi ro an ninh mạng, dẫn đến một tình thế đã đạt tới giai đoạn nguy hiểm, gây thiệt hại và ảnh hưởng đến các mục tiêu an toàn, ổn định và phát triển bền vững của doanh nghiệp, cần phải có sự can thiệp để khắc phục hay để sửa chữa thiệt hại lớn xảy ra.
Đây cũng chính là cơ sở lý luận cho việc tiếp cận nghiên cứu thực trạng khủng hoảng an ninh mạng trong chƣơng 2 và đề ra các nhóm giải pháp hạn chế rủi ro an ninh mạng do gián điệp mạng sử dụng mã độc gây ra cho các doanh nghiệp lớn Việt Nam trong chƣơng 3 của đề tài.