CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ XỬ LÝ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm và phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa - Khái niệm “Doanh nghiệp nhỏ và vừa” trong tiếng Anh là Small and medium-sized enterprises SME.
Đó là tên gọi tắt của doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa được đánh giá theo tiêu chí về vốn (tài sản), nguồn nhân công và doanh thu sản phẩm. - Chỉ tiêu xác định Theo Ngân hàng Thế giới (WB) và Công ty Tài Chính Quốc Tế (IFC) các DN được chia theo qui mô sau: (1) DN siêu nhỏ: là doanh nghiệp dưới 10 người lao động, tổng tài sản trị giá dưới 100.000USD, tổng doanh thu hàng năm không quá 100.000USD; (2) DN nhỏ: là doanh nghiệp dưới 50 người lao động, tổng tài sản trị giá dưới 3.000USD, tổng doanh thu mỗi năm dưới 3.000USD; (3) DN vừa: là doanh nghiệp dưới 300 người lao động, tổng tài sản trị giá nhỏ hơn 15.000USD, tổng doanh thu mỗi năm dưới 15. Ở Việt Nam, dựa theo quy mô thì gồm có doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp siêu nhỏ. (i) Doanh nghiệp siêu nhỏ hoạt động ngành nghề nông - lâm – ngư nghiệp, xây dựng, công nghiệp: số người tham gia bảo hiểm trung bình một năm không được vượt quá 10 người lao động.
Doanh thu của năm hoặc tổng nguồn vốn (vốn chủ sở hữu và nợ phải trả) không được vượt quá 3. Đối với các doanh nghiệp hoạt động ngành nghề dịch vụ và thương mại: số người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế,… trung bình một năm không được vượt quá 10 người lao động. Doanh thu của năm không được vượt quá 10.000 đồng hoặc tổng nguồn vốn (vốn chủ sở hữu và nợ phải trả) không được vượt quá 3. (ii) Doanh nghiệp nhỏ hoạt động ngành nghề nông - lâm – ngư nghiệp, xây dựng, công nghiệp: số người tham gia bảo hiểm trung bình một năm không được 2 vượt quá 100 người lao động.
Doanh thu của năm không được vượt quá 50.000 đồng hoặc tổng nguồn vốn (vốn chủ sở hữu và nợ phải trả) không được vượt quá 20.000 đồng, nhưng không thuộc trường hợp doanh nghiệp siêu nhỏ vừa nêu trên. Đối với các doanh nghiệp hoạt động ngành nghề dịch vụ và thương mại: số người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế,… trung bình một năm không được vượt quá 50 người lao động. Doanh thu của năm không được vượt quá 100.000 đồng hoặc tổng nguồn vốn (vốn chủ sở hữu và nợ phải trả) không được vượt quá 50.000 đồng, nhưng không thuộc trường hợp doanh nghiệp siêu nhỏ vừa nêu trên. (iii) Doanh nghiệp vừa hoạt động ngành nghề nông - lâm – ngư nghiệp, xây dựng, công nghiệp: số người tham gia bảo hiểm trung bình một năm không được vượt quá 200 người lao động.
Doanh thu của năm không được vượt quá 200.000 đồng hoặc tổng nguồn vốn (vốn chủ sở hữu và nợ phải trả) không được vượt quá 100. Đối với các doanh nghiệp hoạt động ngành nghề dịch vụ và thương mại: số người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế,… trung bình một năm không được vượt quá 100 người lao động. Doanh thu của năm không được vượt quá 300.000 đồng hoặc tổng nguồn vốn (vốn chủ sở hữu và nợ phải trả) không được vượt quá 100. Đối tượng đề tài nghiên cứu hướng đến là doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam và theo quy định của chính phủ Việt Nam.
Chính phủ đã ra Nghị định sối 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 về việc phân loại doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh i i nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa dựa vào các tiêu chí cơ bản mô tả tại Bảng 1. Đặc điểm chủ yếu của doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm đại đa số trong tổng số doanh nghiệp tại các nước, nhất là tại các nước có nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam và góp phần lớn vào việc thực hiện những chính sách về kinh tế - xã hội. Trong quá trình hoạt động của mình, các doanh nghiệp nhỏ và vừa luôn gắn liền với thể chế quy định và trình độ phát triển của quốc gia đó. Nhìn chung, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở 3 Việt Nam cũng mang những đặc điểm tương đồng với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các nước đang phát triển khác.
Những đặc điểm đó là: “Bảng 1.1: Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Nghị định 39/2018/NĐ- CP” Lĩnh vực hoạt động Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Số lao động tham gia BHXH Số người tham gia bảo hiểm bình Nông nghiệp, lâm bình quân năm: từ >10 – 100 quân năm: từ >100 - 200 người nghiệp, thủy sản, người Tổng doanh thu của năm: từ >50 - công nghiệp, xây Tổng doanh thu của năm: từ >3 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn: dựng - 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn từ >20 - 100 tỷ đồng. vốn: từ >3 - 20 tỷ đồng. Số người tham gia bảo hiểm Số lao động tham gia BHXH bình Dịch vụ và thương trung bình: từ >10 - 50 người quân năm: từ >50 - 100 người mại Doanh thu: từ >10 - 100 tỷ Doanh thu: từ >100 - 300 tỷ đồng, đồng, vốn: từ >3 - 50 tỷ đồng. vốn: từ >50 - 100 tỷ đồng.
* Theo Nghị định số 39/2018/NĐ-CP (2018). quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chính Phủ ban hành ngày 11 tháng 3 năm 2018. Thứ nhất, doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, tồn tại dưới các hình thức kinh doanh khác nhau.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh độc lập, tồn tại dưới nhiều loại hình khác nhau được thành lập dưới sự góp vốn do một hoặc nhiều chủ thể đầu tư (có thể là tổ chức, cá nhân). Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một chủ thể có tư cách pháp nhân, tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập, bình đẳng với các doanh nghiệp có nguồn vốn lớn. Mục đích của các doanh nghiệp nhỏ và vừa là thực hiện hoạt động kinh doanh - sản xuất và thu về lợi nhuận kinh tế. Theo pháp luật hiện hành của Việt Nam thì doanh nghiệp nhỏ và vừa là tổ chức pháp nhân có tên, tài sản, trụ sở và được đăng ký thành lập, đăng ký kinh 4 doanh.
Bên cạnh đó, được tổ chức hoạt động theo các ngành nghề mà pháp luật cho phép, với các loại hình mà Luật Doanh nghiệp cho phép. Thứ hai, doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô tài sản, doanh thu nhỏ, công nghệ đơn giản và số lượng lao động ít, thường gặp khó khăn trong việc huy động vốn. Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường có quy mô nguồn vốn nhỏ; sử dụng ít lao động, doanh thu thấp hơn, chất lượng chuyên môn nhân sự, người lao động cũng như chi phí đào tạo lao động chưa cao trong tương quan so sánh với các doanh nghiệp khác. Thứ ba, năng lực cạnh tranh “kém”.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa chịu sự cạnh tranh khốc liệt của các Công ty, tập đoàn lớn cùng ngành sản xuất và từ chính các doanh nghiệp cùng ngành với nhau. Trong quá trình hội nhập, các tập đoàn lớn thường có xu hướng vươn mình ra thế giới, thành lập các chi nhánh, công ty con ở các quốc gia có nhiều lợi thế, vì vậy phải tìm ra những phương thức, công cụ mới trong hoạt động kinh doanh. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế Doanh nghiệp nhỏ và vừa đều có những vai trò, ý nghiã khác nhau ở mỗi quốc gia hay vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, có thể thấy một số vai trò điển hình như sau: (i) Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế: các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí chiếm số lượng lớn trong tổng số doanh nghiệp (Ở Việt Nam chỉ xét các doanh nghiệp có đăng ký thì tỷ lệ này là trên 95%).
Vì thế, góp phần tạo nguồn sản lượng dồi dào cho đời sống xã hội. Bên cạnh đó, tạo ra công ăn việc làm, giải quyết được nạn thất nghiệp. Với ưu điểm lĩnh vực kinh doanh đa dạng nhiều ngành nghề khác nhau, các doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn đảm bảo nguồn công việc cho khắp các nơi, vùng miền khác nhau. Hơn thế nữa, khi suy thoái kinh tế diễn ra, chính sách cắt giảm giờ làm, cắt giảm nhu cầu lao động ở các doanh nghiệp lớn sẽ khắc nghiệt hơn.
(ii) Giữ vai trò ổn định nền kinh tế, có thể coi là thanh giảm sốc cho nền kinh tế. Với đặc điểm vốn chủ sở hữu và nợ phải trả thấp, doanh nghiệp vừa và nhỏ có số lượng rất lớn và không ngừng tăng trong thời gian qua. Phát triển ở tất cả các lĩnh vực, ngành nghề tạo ra sự đa dạng, đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Khi nền kinh tế thị trường thay đổi, các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ dễ dàng hơn trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh doanh, đáp ứng được nhu cầu thực tại.
(iv) Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng. Khi một doanh nghiệp lớn muốn sản xuất một mặt hàng, sản phẩm thì rất cần có sự cung ứng nguyên vật liệu, gia công,… từ các doanh nghiệp nhỏ như các vệ tinh xung quanh. (v) Là trụ cột kinh tế tại các địa phương khi số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ rất lớn, tạo việc làm ổn định, củng cố doanh thu ngân sách nhà nước. (vi) Đóng góp rất lớn vào giá trị GDP cho nền kinh tế của địa phương nói riêng và cả quốc gia nói chung.
Thông thường, các vùng kinh tế trọng điểm sẽ tập trung cao ở các vùng đô thị, thành phố lớn và thưa thớt dần ở các vùng miền núi, xa xôi hẻo lánh. Vì vậy, rất dễ xảy ra tình trạng mất cân đối, không sử dụng hết được nguồn tài nguyên vô tận của quốc gia, gây giảm sút nền kinh tế. Tuy nhiên, với ưu thế loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ, dễ dàng lấn sân vào các vùng miền và tận dụng được hết các ưu điểm địa hình, đất đai, tài nguyên ở vùng miền đó, ví dụ như các ngành nghề nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản,… Tóm lại, doanh nghiệp nhỏ và vừa có vị trí và vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế thị trường.