CHƯƠNG 1 NHẬNTHỨCCƠBẢNVỀĐĂNGKÝ, QUẢNLÝHỘNHÂNKHẨUTHỰCTẾNHƯNGCHƯAĐƯỢCĐĂNGKÝH ỘKHẨU 1. NHẬNTHỨCCHUNGVỀQUẢNLÝHỘKHẨU, NHÂNKHẨU 1. Khái niệm, vai trò của quản lý hộ khẩu, nhân khẩu - Vài nét về quá trình hình thành, phát triển của công tác QLHK, NK. QLHK, NK được xác định là một trong những nội dung cơ bản của QLHC về ANTT.
Đây thực chất là quá trình quản lý hoạt động cư trú của con người. Nó có lịch sử hình thành và phát triển từ lâu. Hoạt động QLHK, NK không chỉ cóở Việt Nam mà nhiều nước trên thế giới cũng tiến hành, chỉ khác nhau về mục đích, hình thức, biện pháp, mức độ và phạm vi áp dụng. Bản thân nó thực sự là một vấn đề quan trọng và cần thiết đối với mỗi quốc gia, trong việc quản lý hoạt động của con người.
QLHK, NK được Nhà nước ta tiến hành từ rất sớm. Ngay sau ngày hoà bình lập lại ở miền Bắc (1954), công tác ĐKQLHK được Nhà nước ta quan tâm, nghiên cứu, tổ chức chỉđạo nhằm từng bước góp phần củng cố chính quyền cách mạng, tăng cường việc quản lý xã hội, ổn định tình hình ANTT. Đầu năm 1955, công tác ĐKQLHK được tiến hành thíđiểm ở một số nơi như Thành phố Nam Định, Thị xã Bắc Ninh, Thị xã Sơn Tây, sau mở rộng thêm các địa bàn Hà Nội, Thái Nguyên, HàĐông. Đầu năm 1956 được mở thêm ở các địa bàn khác: Hải Phòng, Đồng Hới, Hà Tĩnh, Hưng Yên, Ninh Giang, Việt Trì.
Công tác ĐKQLHK cơ bản hoàn thành trong phạm vi toàn miền Bắc năm 1959. Sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, công tác ĐKQLHK tiến hành trong cả nước kể từ năm 1976. Những năm đầu khi hoà bình lập lại (1954), Nhà nước ta chưa ban hành Điều lệĐKQLHK chính thức mà chỉđưa ra các quy định tạm thời do Uỷ ban 6 hành chính tỉnh, thành phố từng địa phương công bố. Năm 1957, bản Điều lệtạm thời vềĐKQLHK được chỉnh lý, bổ sung sửa đổi ban hành.
Điều lệĐKQLHK đầu tiên được ban hành kèm theo Nghịđịnh 104/CP ngày 27/06/1964 của Hội đồng Chính phủ. Đây là văn bản chính thống do Nhà nước ta ban hành quy định về việc ĐKQLHK vàđược thực hiện chung, thống nhất trên phạm vi toàn miền Bắc. Trong điều kiện cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mĩ, công tác quản lý xã hội của ta còn nhiều khó khăn, cuộc điều tra dân số không cóđiều kiện thực hiện. Cho nên ngày 29/02/1968, Hội đồng Chính phủ ra tiếp Nghịđịnh 32/CP về việc thống nhất công tác ĐKQLHK và thống kê dân số, lấy kết quả công tác QLHK, NK làm cơ sởđể các ngành khai thác số liệu về dân số phục vụ công tác quản lý xã hội.
Do biến động của tình hình thực tế nên các quy định trong các văn bản vàđiều lệ ban hành theo Nghịđịnh 104/CP (ngày 27/6/1964) không còn phù hợp. Vì vậy, Quyết định 167/QĐ, điều lệĐKQLHK ban hành theo Nghịđịnh 04/CP (ngày 7/01/1988) đã bộc lộ những thiếu sót hạn chế nhất định. Chính vìđiều đó, Chính phủđã ban hành Nghịđịnh 51/CP ngày 10/05/1997 thay thế các văn bản quy định trước đây về công tác ĐKQKHK. Công tác QLHK, NK luôn được xác định là một trong những biện pháp quan trọng góp phần tăng cường việc quản lý xã hội của Nhà nước.
Công tác này Nhà nước giao cho cơ quan Công an trực tiếp tiến hành, các chỉđạo thực hiện thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Nghịđịnh 51/CP ngày 10/05/1997 đã xác định rõ: "Đăng ký và quản lý hộ khẩu là biện pháp quản lý hành chính của Nhà nước nhằm xác định việc cư trú của công dân, tăng cường quản lý xã hội, giữ vững ANCT và TTATXH. Chính phủ giao cho BNV (Nay là Bộ Công an) phụ trách việc ĐKQLHK". Khái niệm đăng ký, quản lý hộ khẩu: ĐK, QLHK là quá trình cơ quan Công an dựa vào các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước để tiến hành đăng ký, quản lý hoạt động cư trú của công dân, đảm bảo cho công dân thực 7 hiện quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định phục vụ cho công tác quản lý xã hội của Nhà nước; công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm.
Đăng ký và quản lý hộ khẩu có những điểm khác biệt nhau nhưng thực tếđây là một quá trình liên tục, kế tiếp đan xen và có quan hệ biện chứng với nhau. Trong đăng kýđã có nội dung yêu cầu của quản lý và trong quản lýđã bao hàm các nội dung của đăng ký và thực sựđây là một chỉnh thể thống nhất. Ở Việt Nam, dưới chếđộ phong kiến thực dân, việc quản lý con người được coi là một phương tiện, công cụđắc lực để duy trì sự thống trị của giai cấp bóc lột. Thông qua hoạt động này, Nhà nước phong kiến và giai cấp thống trị không chỉđể bóc lột người lao động màđây còn là công cụ kiểm soát khống chế, đàn áp nhân dân và những người cách mạng tiến bộ.
Đối với Nhà nước Việt Nam, công tác QLHK, NK được Đảng và Nhà nước ta xác định là biện pháp quản lý hành chính của Nhà nước. Nó có vai trò, vị trí quan trọng trong việc xác định quyền cư trú của công dân, tạo điều kiện để công dân thực hiện nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và hưởng các quyền lợi và Hiến pháp quy định. Mặt khác, QLHK, NK còn có vai trò quan trọng trong việc quản lý xã hội của Nhà nước. Nó cung cấp tài liệu, số liệu về HK, NK và tạo điều kiện để các ngành các cấp trong việc định hướng phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội.
Trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANQG và giữ gìn TTATXH, QLHK, NK được lực lượng Công an xác định đây là một trong những công tác nghiệp vụ rất cơ bản, là vấn đề cóý nghĩa chiến lược lâu dài: "Quản lý hộ khẩu là công tác chiến lược rất cơ bản có nội dung chính trị xã hội và nghiệp vụ". Công tác QLHK, NK không chỉđơn thuần thực hiện chức năng QLXH của Nhà nước, là cơ sởđể các cấp, các ngành khai thác sử dụng đảm bảo cho công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ cơ bản quan trọng giúp cho cơ quan Công an đi sâu nắm chắc từng người làm cơ sở cho các hoạt động phòng ngừa, phát hiện đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật 8 khác. Thông qua công tác QLHK, NK lực lượng Công an nắm chắc lai lịch, đặc điểm nghề nghiệp, thái độ chính trị và hoạt động của từng người dân, trên cơ sởđó mà phân biệt "người tốt", "người xấu", "người tích cựcô, "người tiêu cựcô. Phát hiện vàđấu tranh đối với các loại đối tượng phạm tội và những người có hành vi vi phạm pháp luật.
Trên cơ sở các tài liệu của công tác này, lực lượng Công an xác định được đối tượng đấu tranh, biết dựa vào ai, tranh thủ ai, giúp đỡ ai, cảm hoá giáo dục ai. Đồng thời đây còn là căn cứ, là cơ sởđể lực lượng Công an triển khai thực hiện tốt các mặt nghiệp vụ cơ bản khác. Thực tiễn trong những năm qua, bằng các hoạt động của công tác QLHK, NK lực lượng Công an đã thu thập tích lũy được rất nhiều tài liệu về từng hộ, từng người trong các khu vực dân cư. Những tài liệu này có tác dụng rất to lớn trong việc khai thác phục vụ cho các mặt công tác nghiệp vụ của lực lượng Công an như: phát hiện đối tượng điều tra còn sót bổ sung kịp thời các tài liệu thông tin về con người tạo điều kiện cho các hoạt động trinh sát bí mật, kịp thời phát hiện các đối tượng truy nã, truy tìm, xác định tung tích nạn nhân.
QLHK, NK còn cung cấp các tài liệu cần thiết về con người phục vụ cho việc lựa chọn đặc tính, cơ sở bí mật, cộng tác viên danh dự, đội ngũ cán bộ cơ sở, lực lượng nòng cốt làm công tác ANTT tại cơ sở. QLHK, NK là cơ sở vàđiều kiện để triển khai, thực hiện các mặt công tác nghiệp vụ khác. Nó cung cấp tài liệu cần thiết về lai lịch gốc tích của con người phục vụ cho việc lập hồ sơ xử lý, truy tìm kẻ phạm tội, phục vụ cho các mặt công tác điều tra, truy tố, xét xử. Chính vì vậy, công tác QLHK, NK được xác định là công tác điều tra nghiên cứu sâu sát toàn diện về con người, là một trong những nội dung cơ bản, quan trọng của biện pháp quản lý hành chính về ANTT.
Công tác QLHK, NK vừa phục vụ cho các yêu cầu trước mắt mà còn cóý nghĩa chiến lược lâu dài trong phát hiện, phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác đểđảm bảo bảo vệ ANQG và giữ TTATXH. Phạm vi đối tượng, nội dung phương pháp quản lý hộ khẩu, nhân khẩu 1. Phạm vi đối tượng điều chỉnh QLHK, NK là hoạt động quản lý cư trú của công dân nên đối tượng điều chỉnh của QLHK, NK là con người. Tuy nhiên phạm vi đối tượng điều chỉnh của công tác QLHK, NK được đưa ra phù hợp với từng thời điểm cụ thể.
Trước đây, đối tượng điều chỉnh của công tác QLHK, NK bao gồm tất cả công dân Việt Nam; Điều lệ hộ khẩu ban hành kèm theo Nghịđịnh 104/CP ngày 27/06/1964 của Hội đồng Chính phủ tại Điều 2 có ghi: "Công dân nước Việt Nam đều phải thi hành các quy định của Điều lệ này". Đến Điều lệ QLHK, NK ban hành kèm theo Nghịđịnh 04/CP ngày 07/01/1988 đã có sựđiều chỉnh lại phù hợp về phạm vi, đối tượng chỉáp dụng đối với công dân Việt Nam. Tại Điều 2 - Nghịđịnh 51/CP (ngày 10/5/1997) đã xác định cụ thể: "Mọi công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quyền và nghĩa vụ thực hiện việc ĐK, QLHK ở nơi cư trú gọi là hộ khẩu thường trú. Khi chuyển đến cư trúở nơi mới phải thực hiện đầy đủ các chếđộĐK, QLHK theo quy định".
Đối với người nước ngoài có mặt trên lãnh thổ Việt Nam và người Việt Nam định cưở nước ngoài nay trở về nước và hiện đang có mặt trên lãnh thổ Việt Nam thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghịđịnh này. Riêng đối với người là cán bộ, chiến sĩ thuộc các lực lượng vũ trang như Quân đội, Công an được quy định cho phù hợp với tính chất công tác. Tại Điều 6, Nghịđịnh 51/CP quy định: "Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, công nhân, nhân viên của quân đội và công an nhân dân ở trong doanh trại hoặc nhàở tập thể của quân đội, Công an thìĐK, QLHK theo quy định riêng của Bộ Quốc phòng và BNV (nay là Bộ Công an). Sỹ quan, quân nhân và Công an nhân dân hàng ngày ở với gia đình hoặc có nhàở hợp pháp thìđược đăng ký hộ khẩu gia đình theo quy định của Nghịđịnh này".