chương 1 sẽ trình bày các kiến thức chung về an toàn thông tin như: các yếu tố đảm bảo an toàn thông tin, các nguy cơ mất an toàn thông tin, các mô hình tấn công mạng… Phần cuối của chương sẽ giới thiệu về thực trạng An toàn thông tin trong giao dịch điện tử tại Việt nam, đi sâu nghiên cứu thực trạng bảo đảm an ninh thông tin trong bài toán bầu cử điện tử. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết mật mã và hạ tầng khoá công khai Trong chương 2 sẽ trình bày các kiến thức cơ sở về lý thuyết liên quan như các hệ mật mã, hạ tầng khoá công khai, chữ ký số, chữ ký số mù, giao thức SSL… Phần giữa và kết chương sẽ đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu ứng dụng chữ ký số mù nhằm đảm bảo an ninh trong giao dịch điện tử, cụ thể là trong tiền điện tử LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 và bầu cử điện tử. Kết chương là phần để xuất giải pháp tích hợp chữ ký số mù và cơ sở hạ tầng khoá công khai để đảm bảo an toàn thông tin trong bầu cử điện tử. Chƣơng 3: Phân tích thiêt kế và xây dựng ứng dụng Trong chương 3 sẽ trình bày chi tiết quy trình phân tích, thiết kế và xây dựng hệ thống Bỏ phiếu điện tử trực tuyến sử dụng giải pháp đảm bảo an toàn thông tin trong chương 2.
Kết luận và hƣớng nghiên cứu tiếp theo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ AN TOÀN THÔNG TIN 1. Lý thuyết An toàn thông tin 1. An toàn thông tin Từ khi ra đời đến nay, mạng máy tính đã đem lại hiệu quả vô cùng to lớn trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội. Bên cạnh đó, người sử dụng mạng phải đối mặt với các mối đe doạ an ninh thông tin.
An toàn thông tin trên mạng máy tính là một lĩnh vực đang được đặc biệt quan tâm đồng thời cũng là một công việc hết sức khó khăn, phức tạp. Theo như Luật Giao dịch điện tử ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005 thì định nghĩa an toàn thông tin số như sau: “An toàn thông tin số là thuật ngữ dùng để chỉ việc bảo vệ thông tin số và các hệ thống thông tin chống lại các nguy cơ tự nhiên, các hành động truy cập, sử dụng, phát tán, phá hoại, sửa đổi và phá huỷ bất hợp pháp nhằm bảo đảm cho các hệ thống thông tin thực hiện đúng chức năng, phục vụ đúng đối tượng một cách sẵn sàng, chính sáng và tin cậy (sau đây gọi chung là an toàn thông tin)”. Nội dung của an toàn thông tin bao gồm bảo vệ an toàn mạng và hạ tầng thông tin, an toàn máy tính, dữ liệu và ứng dụng công nghệ thông tin. Các yếu tố đảm bảo an toàn thông tin Mọi hệ thống mạng được gọi là an toàn phải thoả mãn bộ ba CIA.1 – Các yếu tố đảm bảo an toàn thông tin LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Đảm bảo tính bí mật (Confidentiality): Đây là một thuộc tính xác định một cách chủ quan.
Nó chỉ ra sự cần thiết phải hạn chế số chủ thể được tiếp cận tới thông tin này. Vấn đề đảm bảo tính bí mật đồng nghĩa với việc thông tin trong qua trình xử lý không bị xem trộm, dữ liệu trao đổi trên đường truyền không bị lộ, không bị khai thác trái phép… Đảm bảo tính toàn vẹn (Integrrity): dữ liệu khi truyền đi từ nơi này đến nơi khác, hay đang lưu trữ luôn phải đảm bảo không bị thay đổi, sửa chữa làm sai lệch nội dung thông tin. Đảm bảo tính sẵn sàng (Availability): hệ thống mạng luôn ở trạng thái sẵn sàng phục vụ, sẵng sàng cung cấp thông tin, dịch vụ… cho bất kỳ một yêu cầu hợp pháp nào. Với thiết bị phần cứng, đó là việc đảm bảo thông suốt trên đường truyền, hệ thống mạng không bị tắc nghẽn, hỏng hóc… 1.
Các nguy cơ mất an toàn thông tin Các mối đe doạ được hiểu là những sự kiện, những tác động hoặc hiện tượng tiềm năng có thể, mà khi xảy ra sẽ mang lại những thiệt hại. Các mối đe doạ an ninh mạng được hiểu là những khả năng tác động lên hệ thống mạng máy tính, khi xảy ra sẽ dẫn tới sự sao chép, biến dạng, huỷ hoại dữ liệu; là khả năng tác động tới các thành phần của hệ thống dẫn tới sự mất mát, sự phá huỷ hoặc sự ngừng trệ hoạt động của hệ thống mạng… Như đã nêu ở mục 1.1, hệ thống mạng được gọi là an toàn phải thoả mãn bộ ba CIA. Tương ứng, các mối đe doạ an ninh mạng cũng được phân thành ba loại: - Mối đe doạ phát vỡ tính bí mật là nguy cơ việc thông tin trong quá trình xử lý bị xem trộm, dữ liệu trao đổi trên đường truyền bị lộ, bị khai thác trái phép… - Mối đe doạ phá vỡ tính toàn vẹn là dữ liệu khi truyền đi từ nơi này đến nơi khác, hay đang lưu trữ có nguy cơ bị thay đổi, sửa chữa làm sai lệch nội dung thông tin. - Mối đe doạ phá vỡ tính sẵn sàng là hệ thống mạng có nguy cơ rơi vào trạng thái từ chối phục vụ, khi mà hành động cố ý của kẻ xấu làm ngăn cản tiếp nhận tới tài nguyên của hệ thống; sự ngăn cản tiếp nhận này có thể là vĩnh viễn hoặc có thể kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định.
Đánh giá các rủi ro an ninh mạng Rủi ro an ninh mạng có thể từ ba nguồn phát sinh sau: - Các rủi ro do tự nhiên: thiên tai, bão lụt, động đất, lở tuyết, sấm chớp… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 - Các rủi ro do con người: sự kiện gây ra bởi con người, bao gồm lỗi vô ý (lỗi nhập liệu) hay cố tình (tấn công mạng, đăng tải các phần mềm có hại, truy cập trái phép…) - Các rủi ro do môi trường: mất điện dài hạn, ô nhiễm, hoá chất độc hại, rò rỉ nhiên liệu… Điểm yếu là chỗ yếu được khai thác một cách có chủ địch hoặc ngẫu nhiên. Khi đánh giá các rủi ro thì cần chú tâm tới ba yếu tố sau: - Khả năng của các nguồn phát sinh rủi ro - Bản chất của điểm yếu - Tính hiệu quả của các phương pháp phòng chống các điểm yếu. Ba mức độ đo khả năng khai thác điểm yếu được thể hiện trong Bảng 1.1 Mức khả năng Xác định khả năng Rủi ro có khả năng cao và các biện pháp phòng chống các Cao điểm yếu lại không hiệu quả. Rủi ro có khả năng nhưng các biện pháp phòng chống các Trung bình điểm yếu làm việc hiệu quả.
Rủi ro có khả năng thấp hoặc có các biện pháp phòng Thấp chống các điểm yếu làm việc hiệu quả.1 – Mức khả năng rủi ro Sau khi đã xác định được khả năng khai thác điểm yếu, ta có thể phân tích và hiểu rõ tầm ảnh hưởng của chúng tới hệ thống mạng. Khi phân tích ảnh hưởng, ta cần có ba thông tin sau: - Các quy trình thực thi bởi hệ thống - Độ quan trọng của dữ liệu và hệ thống (ví dụ: tầm quan trọng hoặc giá trị của dữ liệu và hệ thống đối với cơ quan/tổ chức) - Độ nhạy của dữ liệu và hệ thống. Ba thông tin trên có thể được thu thập từ các tài liệu và tài nguyên thông tin của tổ chức (các tài nguyên có thể là phần cứng, phần mềm, các hệ thống mạng con, các dịch vụ và các công nghệ…) Nếu không có các tài liệu trên thì độ nhạy của dữ liệu và hệ thống có thể được xác định dựa trên mức bảo vệ để duy trì tính bí mật, tính toàn vẹn và tính sẵn sàng của hệ thống mạng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Các mô hình tấn công mạng Luồng thông tin được truyền từ nơi gửi (nguồn) đến nơi nhận (đích). Trên đường truyền công khai, thông tin bị tấn công bởi những người không được uỷ quyền nhận tin (gọi là kẻ tấn công).2 – Mô hình tấn công luồng thông tin Các tấn công đối với thông tin trên mạng bao gồm: 1. Tấn công ngăn chặn thông tin Tấn công ngăn chặn thông tin (interruption) là tấn công làm cho tài nguyên thông tin bị phá huỷ, không sẵn sàng phục vụ hoặc không sử dụng được. Đây là hình thức tấn công làm mất khả năng sẵn sàng phục vụ của thông tin.
Ví dụ: Những ví dụ về kiểu tấn công này là phá huỷ đĩa cứng, cắt đứt đường truyền tin, vô hiệu hoá hệ thống quản lý tệp. Tấn công chặn bắt thông tin Tấn công chặn bắt thông tin (interception) là tấn công mà kẻ tấn công có thể truy cập tới tài nguyên thông tin. Đây là hình thức tấn công vào tính bí mật của thông tin. Trong một số tình huống kẻ tấn công được tay thế bởi một chương trình hoặc một máy tính.
Ví dụ: Việc chặn bắt thông tin có thể là nghe trộm để thu tin trên mạng (trộm mật khẩu) và sao chép bất hợp pháp các tệp tin hoặc các chương trình. Tấn công sửa đổi thông tin Tấn công sửa đổi thông tin (modification) là tấn công mà kẻ tấn công truy nhập, chỉnh sửa thông tin trên mạng. Đây là hình thức tấn công vào tính toàn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 vẹn của thông tin. Nó có thể thay đổi giá trị trong tệp dữ liệu, sửa đổi chương trình và sửa đổi nội dung các thông điệp truyền trên mạng.
Ví dụ: Kẻ tấn công sử dụng các đoạn mã nguy hiểm, virus… 1. Chèn thông tin giả mạo Kẻ tấn công chén các thông tin và dữ liệu giả và hệ thống. Đây là hình thức tấn công vào tính xác thực của thông tin. Nó có thể là việc chèn các thông báo giả mạo vào mang hay thêm các bản ghi vào tệp.
Ví dụ: Tấn công giả mạo địa chỉ IP. Phân loại các kiểu tấn công mạng Các kiểu tấn công mạng trên được phân chia thành hai lớp cơ bản là tấn công bị động (passive attacks) và chủ động (active attacks) Hình 1.3 – Phân loại các kiểu tấn công Hình 1.3 chỉ ra các kiểu tấn công thuộc các lớp tấn công bị động, tấn công chủ động tương ứng. Tấn công bị động Là kiểu tấn công chặn bắt thông tin như nghe trộm và quan sát truyền tin. Mục đích của kẻ tấn công là biết được thông tin truyền trên mạng.
Có hai kiểu tấn công bị động là khai thác nội dung thông điệp và phân tích dòng dữ liệu. Việc khai thác nội dung thông điệp có thể được thực hiện bằng cách nghe trộm các đoạn hội thoại, đọc trộm thư điện tử hoặc xem trộm nội dung tập tin.