MỞ ĐẦU Bảo mật hệ thống thông tin là một trong những lĩnh vực mà hiện nay giới công nghệ thông tin đang rất quan tâm. Khi internet ra đời và phát triển, nhu cầu trao đổi thông tin trở nên cần thiết. Mục tiêu của việc nối mạng là làm cho mọi ngƣời có thể sử dụng chung tài nguyên từ những vị trí địa lý khác nhau. Cũng chính vì vậy mà các tài nguyên cũng rất dễ dàng bị phân tán, dẫn đến một điều hiển nhiên là chúng sẽ bị xâm phạm, gây mất mát dữ liệu cũng nhƣ các thông tin có giá trị.
Từ đó, vấn đề bảo vệ thông tin cũng đồng thời xuất hiện: Bảo mật ra đời. Tất nhiên, mục tiêu của bảo mật không chỉ nằm gói gọn trong lĩnh vực bảo vệ thông tin mà còn nhiều phạm trù khác nhƣ kiểm duyệt web, bảo mật internet, bảo mật http, bảo mật trên các hệ thống thanh toán điện tử và giao dịch trực tuyến…. Theo thống kê của tổ chức bảo mật nổi tiếng CERT (Computer Emegancy Response Team) thì số vụ tấn công mạng ngày càng tăng mạnh. Điều này cũng dễ hiểu, vì một thực thể luôn tồn tại hai mặt đối lập nhau.
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và kỹ thuật sẽ làm cho nạn tấn công, ăn cắp, phá hoại trên internet bùng phát mạnh mẽ. Vì lý do bảo mật thông tin quan trọng nhƣ vậy nên tôi chọn đề tài về “Nghiên cứu bảo mật hệ thống thông tin và đề xuất giải pháp bảo mật cho hệ thống thông tin Thư viện của Trường Đại học Tài nguyên Môi trường Hà Nội”, góp phần đƣa kiến thức học tập vào thực tiễn nơi công tác. Để hoàn thành đƣợc luận văn, tôi chọn phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết về bảo mật thông tin, các thuật toán mã hóa hiện đang đƣợc áp dụng. Từ đó đề xuất triển khai các giải pháp bảo mật cho hệ thống thông tin Thƣ viện nhà trƣờng nhằm bảo đảm cho hệ thống hoạt động ổn định, an toàn.
Luận văn bao gồm ba chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan về bảo mật hệ thống thông tin. Các biện pháp bảo mật hệ thống thông tin. Đề xuất giải pháp bảo mật cho hệ thống thông tin Thƣ viện.
Kế luận và hƣớng phát triển 9 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BẢO MẬT HỆ THỐNG THÔNG TIN 1. Các khái niệm và định nghĩa - Hệ thống thông tin là gì: Hệ thống thông tin là một hệ thống bao gồm các yếu tố nhƣ: phần cứng, phần mềm, hệ thống mạng, dữ liệu, con ngƣời,… có quan hệ với nhau cùng làm nhiệm vụ thu thập, xử lý, lƣu trữ dữ liệu và thông tin, cung cấp một cơ chế phản hồi để đạt đƣợc một mục tiêu định trƣớc. Hệ thống thông tin đƣợc phân loại theo mục đính phục vụ hay theo tổ chức bao gồm các dạng chính nhƣ: Hệ thống thông tin xử lý giao dịch, hệ thống thông tin quản lý, hệ thống hỗ trợ ra quyết định, hệ thống hỗ trợ điều hành… - Bảo mật hệ thống thông tin (Information Systems Confidentiality) là bảo vệ hệ thống thông tin chống lại việc truy cập, sử dụng, chỉnh sửa, phá hủy, làm lộ và làm gián đoạn thông tin và hoạt động của hệ thống một cách trái phép. - Bảo mật mạng (network Confidentiality) là các vấn đề về mã hóa thông tin khi truyền qua mạng và kiểm soát truy xuất thông tin trên đƣờng truyền.
- Bảo mật máy tính (computer Confidentiality) là lĩnh vực liên quan đến việc xử lý ngăn ngừa và phát hiện những hành động bất hợp pháp trái phép (đối với thông tin và tài nguyên hệ thống) của ngƣời dùng trong một hệ thống máy tính. Lĩnh vực nghiên cứu chính của bảo mật thông tin rất rộng gồm các vấn đề về pháp lý nhƣ hệ thống chính sách, các quy định, yếu tố con ngƣời; các vấn đề thuộc tổ chức nhƣ kiểm toán xử lý dữ liệu điện tử, quản lý, nhận thức; và các vấn đề kỹ thuật nhƣ kỹ thuật mật mã, bảo mật mạng, công nghệ thẻ thông minh… Nhƣ vậy bảo mật là khái niệm bao gồm tất cả các phƣơng pháp nhƣ các kỹ thuật xác nhận danh tính, mật mã hoá, che giấu thông tin, xáo trộn… nhằm đảm bảo cho các thông tin đƣợc truyền đi, cũng nhƣ các thông tin lƣu trữ đƣợc chính xác và an toàn. 10 z Bảo mật luôn đi đôi với an toàn “an toàn và bảo mật”, đây là hai yếu tố quan trọng và gắn bó mật thiết với nhau trong một hệ thống. Có thể nói hệ thống mất an toàn thì không bảo mật đƣợc và ngƣợc lại hệ thống không bảo mật đƣợc thì mất an toàn.
Một hệ thống sẽ là an toàn khi các khiếm khuyết không thể làm cho hoạt động chủ yếu của nó ngừng hẳn và các sự cố đều xảy ra sẽ đƣợc khắc phục kịp thời mà không gây thiệt hại đến mức độ nguy hiểm cho chủ sở hữu. Mục đích của bảo mật thông tin là tránh đƣợc ngƣời không có thẩm quyền đọc, sửa, thay đổi thông tin. Nhƣng đồng thời đảm bảo ngƣời có thầm quyền sẵn sàng khai thác thông tin trong phạm vi quyền hạn của họ. Những yêu cầu của bảo mật hệ thống thông tin Bảo mật hệ thống thống tin nhằm mục đích đảm bảo các tính chất sau: Tính bí mật (Confidentiality), tính toàn vẹn (Integrity), tính sẵn sàng (Availability), tính chống chối bỏ (Non-repudiation) - Tính bí mật (Confidentiality): bảo vệ dữ liệu không bị lộ ra ngoài một cách trái phép.
- Tính toàn vẹn (Integrity): Chỉ những ngƣời dùng đƣợc ủy quyền mới đƣợc phép chỉnh sửa dữ liệu. - Tính sẵn sàng (Availability): Đảm bảo dữ liệu luôn sẵn sàng khi những ngƣời dùng hoặc ứng dụng đƣợc ủy quyền yêu cầu. - Tính chống chối bỏ (Non-repudiation): Khả năng ngăn chặn việc từ chối một hành vi đã làm. Mục tiêu của bảo mật: - Ngăn chặn: ngăn chặn kẻ tấn công vi phạm các chính sách bảo mật - Phát hiện: phát hiện các vi phạm chính sách bảo mật - Phục hồi: chặn các hành vi vi phạm đang diễn ra, đánh giá và sửa lỗi, tiếp tục hoạt động bình thƣờng ngay cả khi tấn công đã xảy ra.
Các mối đe doạ và các hình thức tấn công hệ thống a. Các mối đe dọa và rủi ro đối với hệ thống thông tin. 11 z - Trong một hệ thống thông tin khi vận hành có nhiều đối tƣợng tham gia tác động nên nó, mỗi đối tƣợng đều có thể tiềm ẩn những nguy cơ mất an toàn, làm ảnh hƣởng đến hệ thống. Các mối đe dọa đối với hệ thống thông tin thể hiện hoặc tiềm ẩn trên nhiều khía cạnh khác nhau nhƣ: ngƣời sử dụng, kiến trúc hệ thống công nghệ thông tin, chính sách bảo mật thông tin, các công cụ quản lý và kiểm tra, quy trình phản ứng , v.
- Các mối đe dọa từ phía ngƣời sử dụng: Mối đe dọa của hệ thống thông tin xuất phát từ những lỗi bảo mật, lỗi thao tác của những ngƣời dùng trong hệ thống. Xâm nhập bất hợp pháp, ăn cắp thông tin có giá trị của các đối tƣợng khác tham gia trong hệ thống v. là mối đe dọa hàng đầu đối với một hệ thống thông tin. - Các mối đe dọa từ kiến trúc hệ thống: Nguy cơ rủi ro tiềm ẩn trong kiến trúc hệ thống công nghệ thông tin, đó là các hệ thống không có cơ chế bảo vệ thông tin trong việc tổ chức và khai thác cơ sở dữ liệu; tiếp cận từ xa; sử dụng phần mềm ứng dụng; chƣơng trình kiểm tra, không kiểm soát ngƣời sử dụng, thiếu phát hiện và xử lý sự cố, v.
- Các mối đe dọa bảo mật từ phần cứng: Mất thông tin có thể còn tiềm ẩn ngay trong cấu trúc phần cứng của các thiết bị tin học và trong phần mềm hệ thống và ứng dụng do hãng sản xuất cài sẵn các loại mã độc theo ý đồ định trƣớc, thƣờng gọi là “bom điện tử”. Khi cần thiết, thông qua kênh viễn thông, ngƣời ta có thể điều thiết bị đang lƣu trữ thông tin, hoặc tự động rẽ nhánh thông tin vào một địa chỉ đã định trƣớc. Các hình thức tấn công hệ hệ thống thông tin gây ảnh hƣởng đến bảo mật và an toàn thông tin. - Tấn công trực tiếp Sử dụng một máy tính để tấn công một máy tính khác với mục đích dò tìm mật mã, tên tài khoản tƣơng ứng,… Họ có thể sử dụng một số chƣơng trình giải mã để giải mã các file chứa password trên hệ thống máy tính của nạn nhân.
Do đó, những mật khẩu ngắn và đơn giản thƣờng rất dễ bị phát hiện. 12 z Ngoài ra, hacker có thể tấn công trực tiếp thông qua các lỗi của chƣơng trình hay hệ điều hành làm cho hệ thống đó tê liệt hoặc hƣ hỏng. Trong một số trƣờng hợp, hacker đoạt đƣợc quyền của ngƣời quản trị hệ thống. - Kỹ thuật đánh lừa (Social Engineering) Có 2 loại Social Engineering: một là Social engineering dựa trên con ngƣời liên quan đến sự tƣơng tác giữa con ngƣời với con ngƣời để thu đƣợc thông tin mong muốn.
Kẻ tấn công có thể lợi dụng các đặc điểm sau của con ngƣời để tấn công nhƣ: sự mong muốn trở nên hữu dụng, tính tin ngƣời, nỗi sợ gặp rắc rối. kẻ tấn công có thể giả là các đối tƣợng sau: giả làm ngƣời cần đƣợc giúp đỡ, giả làm ngƣời quan trọng, giả làm ngƣời đƣợc ủy quyền, giả làm nhân viên hỗ trợ kỹ thuật…hai là Social engineering dựa trên máy tính. liên quan đến việc sử dụng các phần mềm để cố gắng thu thập thông tin cần thiết, Phising: lừa đảo qua thƣ điện tử, vishing: lừa đảo qua điện thoại, pop-up Windows, file đính kèm trong email, các website giả mạo, các phần mềm giả mạo - Tấn công từ chối dịch vụ (Denial-of-Service Attacks) Tấn công từ chối dịch vụ (hay còn gọi là DoS - Denial of Service) là một trong những thủ đoạn nhằm ngăn cản những ngƣời dùng hợp pháp khả năng truy cập và sử dụng vào một dịch vụ nào đó. DoS có thể làm ngƣng hoạt động của một máy tính, một mạng nội bộ thậm chí cả một hệ thống mạng rất lớn.
Về bản chất thực sự của DoS, kẻ tấn công sẽ chiếm dụng một lƣợng lớn tài nguyên mạng nhƣ băng thông, bộ nhớ. và làm mất khả năng xử lý các yêu cầu dịch vụ từ các khách hàng khác. Tấn công DoS nói chung không nguy hiểm nhƣ các kiểu tấn công khác, vì kẻ tấn công ít có khả năng thâm nhập hay chiếm đƣợc thông tin dữ liệu của hệ thống. Tuy nhiên, nếu máy chủ tồn tại mà không thể cung cấp thông tin, dịch vụ cho ngƣời sử dụng thì sự tồn tại này là không có ý nghĩa, đặc biệt là các hệ thống phục vụ các giao dịch điện tử thì thiệt hại là vô cùng lớn.