phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận van dojoc kết cầu thành 2 chgjong, 6 tiết. 15 CHGJONG 1 DIEU KIEN VA TIEN DE HINH THANH TG] TGJONG DAO DUC CUA JONH STUART MILL 1.1 Diéu kién kinh té - x4 héi cho sw hinh thanh to tojéng dao dire cia John Stuart Mill “Xét cho đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có tir trajéc dén nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ”[34; tr. Do đó, khi tìm hiểu về những tơi toJởng đạo đức của J.MiII đòi hỏi chúng ta cần phải khảo cứu về đặc điểm kinh tế, xã hội mà ông đã trải nghiệm. Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hàng hóa, từ cuối thế kỉ XV, đầu thế ki XVI, các ngành công nghiệp đã phát triển mạnh mẽ ở Châu Âu, đặc biệt là ở Anh.
Nhu cầu mở rộng sản xuất hàng hóa và mở rộng thi trojong đã tạo động lực to lớn cho các ngành khoa học tự nhiên phát triển mạnh mẽ và đạt đơjợc nhiều thành tựu, nhiều phát minh vĩ đại trong sản xuất đã ra đời nhơỊ: phát minh ra Thoi bay của John Kay năm 1733, máy hơi nojớc của James Watt năm 1784, hay lò luyện thép của Henry Bessemer năm 1875, xe lửa chạy bằng hơi nojớc năm 1804. thậm chí, năm 1851, Anh đã tổ chức một cuộc triển lãm để bố cáo với thế giới về sự phát triển mạnh mẽ trong kĩ thuật cũng nho kinh tế của mình. Với những phát minh mang tính đột phá về kỹ thuật mới trong sản xuất đã thúc đây năng suất lao động lên cao, tạo sự chuyển dịch mạnh mẽ và thay đối về chất của lực lojong sản xuất; lực lojong sản xuất mới đojợc xá lập và nhanh chóng lan tỏa từ Anh sang các nojớc khác ở Tây Âu, tạo điều kiện cho cuộc cách mạng trong lĩnh vực quan hệ sản xuất - một kiểu quan hệ sản xuất mới ra đời thay thế quan hệ sản xuất phong kiến đã trở nên lỗi thời, lạc hậu so với sự phát triển mạnh mẽ của lực lojong san xuất của cuộc đại cách mạng công nghiệp. Trên nền tảng của cuộc cách mạng công nghiệp, phoJơng thức sản xuất tơi bản đã nhanh chóng chiếm gu thế và thay thế phojơng thức sản xuất phong kiến lạc hậu, thống lĩnh toàn Châu Âu.
16 Cuộc cách mang tq san thắng lợi đã đập tan xiềng xích buộc con nggiời của chế độ phong kiến độc tài, tạo ra sự chuyển mình mạnh mẽ trong toàn xã hội không chỉ ở những mặt căn bản nhơi kinh tế, chính trị mà cả trong lĩnh vực văn hóa to toJởng. Những giá trị văn hóa mới ra đời, đồng thời có sự phục hơing mạnh mẽ của những giá trị văn hóa tơi tojởng cô dai sau hàng trăm năm tp bức bởi những tơi toJởng duy tâm tôn giáo với mục đích chi phối con ngơi của xã hội phong kiến. Giai cấp tơi sản ngay từ khi ra đời đã thu hút mạnh mẽ lực lojợng tham gia. “Tự do - Bình dang - Bac ai” dojge coi 1a gia trị đích thực của sự tồn tại, là mục tiêu hojớng tới của toàn xã hội đã trở thành cực nam châm để giai cấp to sản thu hvt su hojong tng va ung ho tir tất các các lực lojong quan chúng.
Lần đầu tiên những con ngojời còng khổ bị áp bức bởi phong kiến đơjợc nghe tới những cụm từ này, họ biết đấu tranh vì cuộc sống của mình chứ không phải đặt cuộc sống của mình vào tay thần thánh hay nhà vua nhơi trojớc kia nữa. Đây cũng chính là hệ giá trị xuất phát điểm đề từ đó, giai cấp tơi sản thực hiện xây dựng lên những hệ gia tri toy tojong khác tiêu biểu cho thời đại mới, thay thế những giá trị của hệ tơi toởng phong kiến nhằm thực hiện cuộc cách mạng tiếp theo trên bình diện tơi tojong. Nếu nhơi ở thời kỳ phong kiến, to tojởng œn ngojời bị kiềm chế, chịu sự thống trị của xã hội phong kiến, của những to tojong duy tâm tôn giáo thì nay đã có những biến đổi mạnh mẽ. Sau hàng trăm năm con ngơiời bị đè nén về mặt to tơjởng, lần đầu tiên, con ngojời đojợc Ếpcận với những khái niệm nhơi tự do, bình đẳng, bác ái, dân chủ.
Những học thuyết về chính trị, về tự do của con ngojời và những qui chuẩn đạo đức của xã hội mới lần lojợt đơjợc ra đời và còn giữ nguyên giá trị cho đến thời hiện đại. Một trong những biểu hiện rõ nét về sự chuyền biến trên bình diện tơ tojởng là phong trào triết học khai sáng, các đại biểu nhơi G. d manh nha tir thé ki XVII nhong phải đến thế ki XVII, giai đoạn của I.Kant, triết học khai sáng nói riêng và luồng 17 tơi tojởng mới nói chung mới đojợc hình thành rõ nét. Triết học khai sáng theo quan điểm của I.Kant là sự giải thoát con ngoIời ra khỏi tình trạng chơja trojởng thành mà chính con ngoJời tạo ra cho mình.
Su chgja trojong thanh nay dope đánh giá qua việc con ngojời phải dựa vào sự dẫn dắt của một chủ thể khác chứ không phải dựa vào lý trí của chính mình. Điều này không phải do con ngơjời thiếu lý trí mà do con ngo|ời thiếu sự can đảm, không dám sử dụng lý trí của chính mình nên đã để kẻ khác lợi dụng, dẫn dắt và chi phối một cách mù quáng. Nhận thức rõ sự u mê và thiếu can đảm của con ngojời trong xã hội phong kiến, các nhà triết học khai sáng đã dgja ra lời kêu gọi con ngojời hãy dám tìm hiểu, dám biết và dám sử dụng lý trí của mình để quyết định cuộc sống của mình. Phong trào khai sáng và to tojởng của các triết gia theo trơiờng phái khai sáng vẫn đã và đang có sức ảnh hoJởng quan trọng tới tơi tơjởng nhân loại.
Ở rất nhiều quốc gia trên thế giới, phong trào khai sáng vẫn tiếp tục đojợc nhân rộng và là vũ khí quan trọng giúp chống lại chủ nghĩa phong kiến mông muội, tối tăm và chế độ thần quyền trên bình diện tơi tojởng. Một số luận điểm của các nhà khai sáng vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay nhơi: Lý tính dojgc coi 14 kha nang quan trọng nhất của con ngojời, nhờ có nó mà con nggiời nhận biết đojợc điều gì là đúng đắn, từ đó đoỊa ra quyết định về hành động của bản thân; Hoặc niềm tin của con ngojời mang tính chủ quan, xuất phát từ mỗi cá nhân, cụ thể hơn là từ lý tính của mỗi cá nhân. Niềm tin không có tính truyền thống dojgc truyền từ đời này sang đời khác, không thể dùng chức sắc hay uy quyền đề bắt ép và càng không dựa trên tôn giáo hay kinh nghiệm của con ngojời. “Tất cả mọi ngojời trong xã hội đều có quyền bình đẳng về khía cạnh lý lẽ so với các cá nhân hay với một tổ chức, mọi ngojời đều có quyền có lý lẽ của cá nhân mình, không ai có quyền xâm phạm hay tojớc đoạt quyền đơa ra lý lẽ cá nhân của ngojời khác.
Từ đó, con ngơiời trong xã hội cần xây dựng và bảo vệ quyền bình đăng, tự do cá nhân của mình cũng nhơi quyền bình đẳng trơjớc pháp luật”. 18 Một trong những giá trị chủ đạo của tơi tơjởng thời kì này là tơi toiởng su tự do cá nhân, những giá trị đạo đức dojoc xay dung trén tinh thần mới, tỉnh thần của con ngơiời dân chủ. Chính bối cảnh chính trị nơjớc Anh này đã tá động không nhỏ đến sự hình thành tơi tojởng của J.Mill, khiến ông phát hiện và có những đóng góp nhất định bằng việc đoỊa ra đojợc nhiều tơi toJởng quí fuvà mang ý nghĩa cấp thiết cho xã hội, đặc biệt là trên lĩnh vực đạo đức, chính trị. Sinh ra ở thế kỷ XIX, đây là giai đoạn nojớc Anh hoịng thịnh nhất, chủ nghĩa tơi bản đã đem lại nguồn lợi to lớn cho nojớc Anh, nhoIng J.MiII đã sớn nhận thấy mặt trái của chủ nghĩa tơi bản.
Với một xã hội vị lợi nhuận, vị đồng tiền bấy gid, phd hợp với thuyết công lợi đơn thuần của Bentham. Với châm ngôn: “Giảm bắt hạnh tăng lợi ích” giới cầm quyền đã lợi dụng điều đó dé lái sang hojong khác, nhằm phục vụ mục đích của mình.Mill mong muốn khắc phục hạn chế của thuyết công lợi và mang lại tính nhân văn cho nó. Thêm vào đó, nhờ cuộc phát kiến địa lý vĩ đại tìm ra châu Mỹ của Colombus mà làn sóng di dân trên thế giới diễn ra mạnh mẽ. Lúc này, nhà noc Anh da nam bat cơ hội, thúc đầy ngành nghề công nghiệp đóng tàu, hàng loạt con tàu bằng kim loại ra đời thay thế cho tàu gỗ trojớc đó.
Với sự phát triển của nghành công nghiệp tàu thủy, nơjớc Anh thâu tóm gần nhơi toàn bộ việc giao thông vận tải trên biển, hoạt động giao thoJơng, buôn bán trên thé giới diễn ra náo nhiệt hơn bao giờ hết. Nhờ sự đón đầu và tiềm lực kinh tế của mình, nojớc Anh đã vơiơn lên trở thành quốc gia sở hữu nhiều thuộc địa lớn nhất thế giới. Thuộc địa của Anh trải dài cả ở Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ,. mở ra giai đoạn chủ nghĩa dé quéc thực dân ở Anh.
Trong giai đoạn đó, chính những mâu thuẫn giai cấp cũng ảnh hơiởng đến quá trình hình thành to, tojong J.MIiII, bằng chứng cho điều đó là những đoạn ông viết về công lý, sự bất công và những ngơiời cộng sản trong các tác phâm của mình.2 Những tiền đề tơi tơjớng cho sự hình thành tơi tơjớng đạo đức của Jin Stuart Mill 1.1 Thuyết khoái lạc của Epicurus (341-271 TCN) Chủ nghĩa khoái lạc là một trong những khuynh hojớng triết học duy vật Hi Lạp thời kỳ hậu Socrates, xem khoái lạc là mục đích của cuộc đời. Có rất nhiều ngojời hiểu sai về từ khoái lạc, khi nhắc tới hai từ “khoái lạc” ngơiời ta thojờng hình dung tới một lối sống phóng túng, đời sống thiếu lành mạnh và có phần trụy lạc, thả tâm trí và sức lực vào những thú vui nhục dục không màng toi thuc tai. To toJởng đó là hoàn toàn sai và có phần phiến diện. Học thuyết khoái lạc của Epicurus lại hoàn toàn ngơjợc lại, đó là một học thuyết hojong về những tơi toJởng cao đẹp của các bậc hiền triết và hoàn toàn với mục đích đúng đắn, hơiớng con nggịời ta tới cái chân - thiện - mỹ và hoàn thiện đời sống.