Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan về vàng và thị trường vàng: 1. Một số vấn đề cơ bản về vàng: 1. Khái niệm và đặc điểm của vàng trong nền kinh tế: a.
Khái niệm: Vàng là tên nguyên tố hoá học có kí hiệu Au (L.aurum) và số nguyên tử 79 trong bảng tuần hoàn. Là kim loại mềm, dễ uốn, dễ dát mỏng, màu vàng và chiếu sáng, vàng không phản ứng với hầu hết các hoá chất nhưng lại chịu tác dụng của nước cường toan (aqua regia) để tạo thành axít cloroauric cũng như chịu tác động của dung dịch xyanua của các kim loại kiềm. Kim loại này có ở dạng quặng hoặc hạt trong đá và trong các mỏ bồi tích và là một trong số kim loại đúc tiền. Vàng được sử dụng trong nhiều ngành nghề như trang sức, nha khoa, điện tử… Đặc biệt, bởi sự quý hiếm, tinh khiết, ít bị biến đổi theo thời gian mà từ hàng ngàn năm trước vàng đã được các nhà buôn lựa chọn làm thước đo giá trị – một dạng tiền và vật cất trữ của cải.
Cho đến ngày nay, vàng vẫn được công nhận như là một tiêu chuẩn tiền tệ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Mã tiền tệ ISO của vàng là XAU. Đặc điểm của vàng trong nền kinh tế: Vàng là một loại kim loại quý: Vàng có tính bền vững hóa học cao với vẻ đẹp bề ngoài sáng bóng, vàng nguyên chất có độ dẻo cao, dễ dát thành lá mỏng và kéo sợi nên vàng rất phù hợp với việc chế tác đồ kim hoàn, các linh kiện và vi mạch điện tử hay trao đổi, cất trữ. Ngoài ra, vàng là vật chất có độ dẫn điện, dẫn nhiệt cao, phản ánh tia hồng ngoại rất mạnh.
4 Ứng dụng mô hình ARIMA để dự báo giá vàng Việt Nam trong ngắn hạn Vàng là một loại hàng hóa đặc biệt: Vàng là một loại hàng hóa đặc biệt và độc nhất bởi trong khi các loại hàng hóa khác được sản xuất để tiêu dùng thì vàng được dùng để tích trữ. Không như các loại hàng hóa đơn thuần khác, vàng còn là một loại tiền tệ đặc biệt dùng để trao đổi trong hơn 5000 năm nay. Bên cạnh đó, khác với các đồng tiền trên thị trường như USD, Euro, Yên Nhật… luôn chịu ảnh hưởng bởi sự kiểm soát và nền kinh tế của nước đó, vàng tuy mang tính chất công cụ trao đổi của tiền nhưng lại không chịu sự ảnh hưởng hay sự kiểm soát của nền kinh tế cụ thể nào. Chính điều này giữ cho giá trị của vàng lâu bền hơn giá trị của các đồng tiền khác.
Vàng là một khoản đầu tư và là một trong những tài sản dự trữ quốc gia: Chính tính chất như một loại hàng hóa của vàng cũng đem lại cho vàng một sức hút hấp dẫn trong vai trò là công cụ đầu tư, chống lạm phát. Khác với các kênh đầu tư khác trên thị trường tài chính, trong bối cảnh nền kinh tế bất ổn, thị trường vàng lại khởi sắc và cuốn hút không chỉ những nhà đầu tư nhỏ lẻ mà cả các tổ chức tài chính lớn bởi tính hấp dẫn của vàng như một kênh trú ẩn an toàn, bảo đảm được nguồn vốn. Kinh tế ngày càng phát triển, lạm phát gia tăng và vàng trở thành kênh trú ẩn. Vàng còn là một khoản tiền đầu tư đã tồn tại cùng chứng khoán và các loại hàng hóa khác góp phần quan trọng trên thị trường thế giới.
Đặc biệt, khi mà kinh tế thế giới vẫn chưa hoàn toàn phục hồi sau khủng hoảng, đồng tiền bị mất giá, thị trường chứng khoán và bất động sản trầm lắng, thị trường vàng lại trở thành kênh đầu tư hấp dẫn. Một lý do nữa khiến cho các nhà đầu tư hiện nay chú ý đến vàng là do việc gia tăng dự trữ bằng vàng của các Ngân hàng Trung Ương (NHTW) các nước. Tại nhiều quốc gia, các NHTW đang đưa vàng vào danh mục dự trữ của mình thay cho việc dự trữ USD như truyền thống trước đây. Các quốc gia, ngân hàng và quỹ đầu tư trên toàn thế giới tăng cường giữ vàng trong danh mục đầu tư của mình để tránh nguy cơ giảm giá trị tài sản do lạm phát và phá giá tiền tệ trong điều kiện suy thoái kinh tế toàn cầu như hiện nay.
5 Ứng dụng mô hình ARIMA để dự báo giá vàng Việt Nam trong ngắn hạn 1. Khái quát lịch sử ra đời của vàng và chế độ bản vị vàng: a. Lịch sử ra đời của vàng: Từ thế kỉ VII trước công nguyên, tiền kim loại đã bắt đầu được sử dụng và phát triển rộng rãi trong suốt thời kỳ các triều đại phong kiến. Trong giai đoạn đầu để thanh toán cho nhau người ta thường cân, đong những kim loại phù hợp.
Để tạo điều kiện dễ dàng, một số thương nhân đã tự in, đúc tiền và sau này Nhà nước chính thức ban hành tiêu chuẩn giá cả cho đồng tiền quốc gia và thống nhất kỹ thuật in đúc tiền để đảm bảo uy tín, tính chất pháp lý của đồng tiền, đồng thời chứng thực quyền lực của Nhà nước. Khi chủ nghĩa tư bản hình thành, nền sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển, đòi hỏi một trung gian trao đổi phải có giá trị cao được nhiều người chấp nhận và độ bền cao để bảo tồn giá trị theo thời gian. Từ đó, vàng bạc đã loại bỏ dần các kim loại khác để trở thành đồng tiền phổ biến trong thế kỉ XVIII, XIX. Trong giai đoạn này, có những nước đã thực hiện chế độ song bản vị.
Tuy nhiên, cùng tồn tại bên vàng, vai trò trao đổi của bạc bị giảm sút không chỉ về hình thức mà giá trị quý hiếm của vàng cũng ngày càng bỏ xa bạc. Cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi giá bạc trên thị trường bị giảm mạnh, hầu hết các nước phương Tây đã áp dụng chế độ bản vị vàng và mối quan hệ giao thương đã bị phụ thuộc nhiều vào châu Âu nên sau đó các nước châu Á lần lượt chuyển sang chế độ bản vị vàng. Chế độ bản vị vàng: Khái niệm: Chế độ bản vị vàng là chế độ tiền tệ trong đó đồng tiền của một nước được đảm bảo bằng một hàm lượng vàng nhất định theo pháp luật. Đặc điểm: Tỷ giá của các đồng tiền được xác định bởi một khối lượng vàng nhất định.
Hay nói một cách khác mỗi Chính phủ ấn định giá vàng theo đồng tiền quốc gia, đồng thời sẵn sàng không hạn chế mua và bán vàng tại mức giá đã định. 6 Ứng dụng mô hình ARIMA để dự báo giá vàng Việt Nam trong ngắn hạn Tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền được xác định dựa trên nguyên tắc ngang giá vàng. Xuất khẩu và nhập khẩu vàng giữa các quốc gia được tự do hoạt động. Do vàng được chu chuyển tự do giữa các quốc gia, cho nên tỷ giá trao đổi thực tế trên thị trường tự do không biến đổi đáng kể so với bản vị vàng, bởi lẽ tất cả đều được quy ra vàng.
Dưới chế độ bản vị vàng, NHTW luôn phải duy trì một lượng vàng dự trữ trong mối quan hệ trực tiếp với số tiền phát hành. Tiền do NHTW phát hành được đảm bảo bằng vàng 100%. Số vàng dự trữ này nhằm đảm bảo cho NHTW xử lý uyển chuyển việc chuyển đổi tiền ra vàng mà không gặp bất cứ trở ngại nào. Như vậy trong chế độ bản vị vàng, NHTW chỉ có vai trò là người mua vàng và thông qua đó phát hành tiền ra lưu thông, do đó đã hạn chế sự “năng động” của NHTW.
Chế độ bản vị vàng cổ điển 1875 – 1914: Trong gần 40 năm từ 1875 – 1914, hệ thống bản vị vàng đã thống trị ở hầu khắp các nước, liên kết chặt chẽ các quốc gia với nhau. Chế độ bản vị vàng 1875 – 1914 được nhìn nhận là hệ thống hoạt động hoàn hảo, trong đó các quy tắc lưu thông tiền tệ trên được áp dụng tương đối phổ biến và triệt để. Ưu điểm: Có tính đặc trưng của một hệ thống tiền tệ quốc tế có trật tự. Hệ thống tiền tệ các quốc gia luôn hoạt động thống nhất, trật tự bên cạnh nhau.
Mâu thuẫn quyền lợi giữa các quốc gia ít khi xảy ra vì có sự tác động của cơ chế dòng vàng. Giúp cho thương mại và đầu tư thế giới phát triển hưng thịnh. Hàng rào thương mại vàng được gỡ bỏ hoàn toàn và kiểm soát ngoại hối, chu chuyển vốn ít khi được áp dụng, cộng với việc không có một sự phá giá hay nâng giá nào giữa các đồng tiền của các quốc gia lớn trên thế giới đã giúp cho thị trường vốn quốc tế phát triển. Hạn chế: Nền kinh tế thường xuyên phải trải qua sự mất ổn định do phải điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế thông qua giá cả, lãi suất… 7 Ứng dụng mô hình ARIMA để dự báo giá vàng Việt Nam trong ngắn hạn Quốc gia thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế trải qua giai đoạn kinh tế đình đốn trong khi các quốc gia thặng dư thanh toán quốc tế lại đối mặt với lạm phát.
Trữ lượng vàng quyết định mức cung tiền tệ của một quốc gia trở thành nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của kinh tế. Chế độ bản vị vàng hiện đại 1925 – 1931: Chế độ bản vị vàng được tái ấn định sau chiến tranh gặp nhiều khó khăn, biến dạng không giống như chế độ bản vị vàng nguyên thủy và cũng không hoạt động ổn định như trước. Đây là chế độ bản vị hối đoái vàng: tiền giấy không được trực tiếp chuyển đổi ra vàng mà phải thông qua một ngoại tệ khác. NHTW thay đổi cơ cấu dự trữ quốc tế, chuyển từ nắm giữ vàng sang nắm giữ ngoại tệ được chuyển đổi ra vàng như bảng Anh và ngày càng nhiều bằng USD.
Sau cuộc đại suy thoái kinh tế năm 1931, chế độ bản vị vàng chính thực sụp đổ sau hơn 50 năm “trị vì”. Sự sụp đổ của chế độ bản vị vàng: Trữ lượng vàng trên thế giới là hữu hạn và lượng khai thác mới không tăng kịp với tốc độ phát triển của kinh tế thế giới. Với sự tăng trưởng mạnh của các nền kinh tế, sự tăng trao đổi quốc tế, dự trữ vàng thế giới và thị trường của nó trở thành một nhánh nhỏ của toàn bộ thị trường. Điều đó dẫn đến các tỷ lệ trao đổi tiền tệ cố định với vàng đã không thể duy trì.
Đầu Thế chiến thứ I, các quốc gia tham chiến đã chuyển sang một bản vị vàng ít hơn để phục vụ chiến tranh.