CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu nước ngoài Tính đến thời điểm hiện tại, trên thế giới đã xuất hiện khá nhiều các công trình nghiên cứu về tác động của dòng tiền tự do đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Các nghiên cứu thực nghiệm với mẫu là các doanh nghiệp trong các lĩnh vực, quốc gia, thời gian khác nhau. Các nghiên cứu kiểm định vấn đề này thông qua những mô hình, mẫu dữ liệu khác nhau đang đưa ra những kết luận khác nhau về sự tác động của dòng tiền tự do đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Một số nghiên cứu đã tìm thấy sự tác động ngược chiều của dòng tiền tự do đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp: Jensen (1986) lần đầu chỉ ra lý thuyết dòng tiền tự do và đề tài này dần dần được quan tâm nghiên cứu. Lý thuyết dòng tiền tự do của Jensen cho rằng các nhà quản lý có thể nhanh chóng đầu tư vào các dự án có NPV âm, không cần thiết khi có quá nhiều dòng tiền tự do trong tay. Khi nghiên cứu về ngành công nghiệp dầu tại Mỹ, đây là ngành có thặng dư dòng tiền tự do vào thời điểm đó, thấy rằng các công ty này đã sử dụng dòng tiền này để đầu tư vào khai thác khi lợi nhuận bình quân thấp hơn chi phí vốn thay vì trả lại khoản này cho các cổ đông. Qua kiểm tra thực nghiệm có khẳng định rằng dòng tiền tự do chính là nguyên nhân chính khiến lợi nhuận đầu tư vào các công ty Mỹ giảm xuống dưới mức lợi nhuận yêu cầu trong những năm 1980.
Nghiên cứu cũng chỉ ra để hạn chế vấn đề người đại diện cần có sự giám sát của các khoản nợ. Hành động của các nhà quản lý sẽ được kiểm soát hơn khi chịu áp lực từ việc phải trả lãi cho chủ nợ. Tổng kết lại, nghiên cứu kết luận rằng một công ty có dòng tiền tự do cao và ít có cơ hội phát triển, các nhà quản lý có thể đầu tư vào các dự án không tốt, khả năng sinh lời thấp, ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả hoạt động. Một số nghiên khác cũng đưa ra kết quả ủng hộ cho lý thuyết dòng tiền tự do của Jensen (1986) như nghiên cứu của Byrd (2010), Yero & Usman (2013).
Các nghiên cứu chỉ ra dòng tiền tự do có tương quan nghịch với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, dòng tiền tự do cao có thể làm xấu đi hiệu quả hoạt động của công ty vì nó được phân bổ quá mức cho các dự án không cần thiết cho công ty. 5 Brush & cộng sự (2000) đưa ra nhận định rằng: đối với những doanh nghiệp có dòng tiền tự do (và không có sự quản trị chặt chẽ) thì tăng trưởng doanh thu sẽ sinh lời ít hơn tăng trưởng doanh thu của những doanh nghiệp không có dòng tiền tự do. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng kiểm tra xem liệu các điều kiện quản trị chặt chẽ có tác động tốt tới hiệu quả hoạt động của các công ty có dòng tiền tự do và/hoặc hạn chế các khoản đầu tư vào tăng trưởng doanh thu không sinh lời hay không. Sau quá trình nghiên cứu, các tác giả đưa ra kết luận: kết quả nghiên cứu đưa ra phù hợp với lý thuyết đại diện, các công ty có dòng tiền tự do thu được ít lợi nhuận hơn từ tăng trưởng doanh thu so với các công ty không có dòng tiền tự do.
Nhưng các điều kiện quản trị khác nhau ảnh hưởng đến tăng trưởng theo những cách khác nhau. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng dòng tiền sẽ làm tăng tăng trưởng doanh thu và tăng trưởng doanh thu tăng hiệu quả hoạt động cho ba loại doanh nghiệp: thứ nhất, doanh nghiệp không có dòng tiền tự do; thứ hai, doanh nghiệp có dòng tiền tự do thấp, không có sự quản trị chặt chẽ; thứ 3, doanh nghiệp do chính người chủ quản lý có dòng tiền tự do thấp. Richardson (2006) đã thực hiện nghiên cứu mức độ đầu tư quá mức của doanh nghiệp đối với dòng tiền tự do. Bằng chứng trong bài viết này cho thấy rằng đầu tư quá mức là một vấn đề phổ biến đối với các công ty giao dịch công khai của Hoa Kỳ.
Đối với các công ty phi tài chính trong giai đoạn 1988–2002, trung bình một công ty đầu tư quá mức 20% dòng tiền tự do sẵn có của mình. Hơn nữa, phần lớn dòng tiền tự do được giữ lại dưới dạng tài sản tài chính. Có rất ít bằng chứng cho thấy dòng tiền tự do được phân phối cho các bên liên quan bên ngoài, do đó tạo ra khả năng dòng tiền tự do giữ lại được đầu tư quá mức trong tương lai. Việc sử dụng dòng tiền tự do cho đầu tư quá mức là không quá cần thiết cho hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Thông qua nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra những bằng chứng thống nhất với lý giải về chi phí người đại diện. Nghiên cứu thấy rằng đầu tư quá mức tập trung ở các công ty có mức dòng tiền tự do cao nhất. Việc đầu tư này có thể không đem lại lợi nhuận mà còn khiến cho tỷ suất sinh lời trên tài sản bị giảm đi, ảnh hưởng không tốt làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Các thử nghiệm tiếp theo của nghiên cứu kiểm tra xem cấu trúc quản trị của công ty có liên quan đến việc đầu tư quá mức vào dòng tiền tự do hay không.
Và đã tìm thấy 6 bằng chứng cho thấy cơ cấu quản trị có hiệu quả trong việc giảm thiểu mức độ đầu tư quá mức. Ngược lại, một số tác giả lại chỉ ra có sự tác động cùng chiều của dòng tiền tự do đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp: Ambreen & Aftab (2016) đã chỉ ra dòng tiền tự do có tác động đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Các tác giả cho rằng dòng tiền tự do là một trong những yếu tố tài chính quan trọng nhất vì nó dự đoán tốt liệu một công ty có lành mạnh về tài chính hay không, liệu nó có khả năng tận dụng các cơ hội mới hay không. Nghiên cứu trên 30 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Karachi, thời gian là 5 năm (2010-2014) và kết quả là có mối quan hệ tích cực giữa dòng tiền tự do và khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
Nghiên cứu này có thể được coi là minh chứng cho một thực tế rằng để đạt được lợi nhuận, một công ty cần phải dựa trực tiếp vào dòng tiền tự do của mình. Từ đó, tầm quan trọng của dòng tiền tự do đối với lợi nhuận và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cũng trở nên rõ ràng. Ali & cộng sự (2018) cũng đã có những nghiên cứu về tác động của dòng tiền tự do đối với khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp ô tô tại Đức. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu trong giai đoạn 10 năm (2007-2016) của 5 doanh nghiệp trong ngành công nghiệp ô tô của Đức.
Bài nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng có mối quan hệ tích cực giữa dòng tiền tự do và lợi nhuận hay khả năng sinh lời của các doanh nghiệp. Dòng tiền tự do càng cao thì khả năng sinh lời càng cao, từ đó có thể thấy dòng tiền tự do sẽ có những tác động cùng chiều đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Chosiah & cộng sự (2019) khi kiểm tra tác động của chính sách cổ tức đối với hiệu quả hoạt động của công ty thông qua việc điều tiết cơ hội đầu tư (IOS) và dòng tiền tự do (FCF), kiểm tra tác động của việc thực hiện quản trị công ty đối với chính sách cổ tức và hiệu quả hoạt động của công ty cũng đưa ra kết luận về mối quan hệ giữa dòng tiền tự do và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Thực hiện nghiên cứu trên dữ liệu của 71 công ty thuộc ngành nông nghiệp trên Sở giao dịch chứng khoán Indonesia trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2016 và cho ra kết quả rằng dòng tiền tự do có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
FCF càng lớn thì hiệu quả hoạt động của công 7 ty càng được cải thiện, FCF càng nhỏ thì hiệu quả hoạt động của công ty càng giảm. Giá trị cao của dòng tiền tự do thuộc sở hữu của công ty có ảnh hưởng đến việc cải thiện hiệu quả hoạt động của công ty. Mối quan hệ tích cực này cho thấy FCF là kết quả của hiệu quả hoạt động quản lý, trong đó FCF cao giúp công ty có thể tận dụng nhiều cơ hội đầu tư hơn để tạo ra hiệu quả tốt cho công ty. FCF cao không khiến các công ty đầu tư vào các dự án có NPV thấp như Jensen (1986) đã nêu trước đó, thay vào đó, doanh nghiệp có dòng tiền tự do cao hoạt động tốt hơn doanh nghiệp có dòng tiền tự do thấp.
Các nghiên cứu Shahjahani & Bokharayan (2016), Sapuan & cộng sự (2021) cũng đưa ra kết luận tương tự: dòng tiền tự do có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp và không ủng hộ lý thuyết dòng tiền tự do. Tuy nhiên những nghiên cứu này mới chỉ xét đến mối quan hệ giữa dòng tiền tự do và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, mà chưa xem xét đến mối quan hệ này khi doanh nghiệp có cơ hội đầu tư. Các nghiên cứu cho rằng, ảnh hưởng của dòng tiền tự do đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp còn tùy thuộc vào cơ hội đầu tư của doanh nghiệp đó. Như trong nghiên cứu của Lang & cộng sự (1989, 1991), yếu tố cơ hội đầu tư đã được chú trọng hơn khi nghiên cứu mối quan hệ giữa dòng tiền tự do và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Nghiên cứu sử dụng hệ số Tobin’s Q để phân loại doanh có và không có cơ hội đầu tư. Nghiên cứu thấy rằng ở các doanh nghiệp có hệ số Tobin’s Q nhỏ hơn 1, tức là nhưng doanh nghiệp không có cơ hội đầu tư thì dòng tiền tự do sẽ tác động nghịch chiều với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) thường được các tác giả sử dụng khi nghiên cứu về sự tác động của dòng tiền tự do đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp: Wang (2010) sử dụng cả 2 biến là ROA và ROE đại diện cho hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp khi kiểm tra lý thuyết dòng tiền tự do, xem xét dòng tiền tự do ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả hoạt động và kiểm tra mối quan hệ giữa chi phí người đại diện và hiệu quả hoạt động.